truyện ngắn việt nam sau 1975
Sự khởi sắc của truyện ngắn Việt Nam đương đại (từ 1980 - 2010) Thạc sĩ Nguyễn Văn Thành. Văn học Việt Nam sau năm 1986 đã có nhiều chuyển biến theo nhịp điệu đổi mới của cuộc sống. Ý thức cá nhân sau một thời gian dài tạm nhường cho ý thức cộng đồng, tập
Thể Loại: Truyện Ma, Kinh Dị, Tâm Linh. Tác Giả: Nguyễn Ngọc Ngạn. Thực hiện Audio: MC Thanh Tùng. Giới Thiệu: Trên chuyến phà cuối năm từ Đức sang Thuỵ Điển, tôi tình cờ gặp một đồng hương: bác sĩ Vũ Xuân Lộc. Mùa đông Bắc Âu, ngày rất ngắn.
Ngày xưa ông đi buôn lậu trong rừng nuôi vợ, song vợ ông lại nuôi nhân tình. Ông bắt gặp để rồi ông tuyệt vọng, và hết sức giận tức đàn bà. Ông đã có xu hướng tránh né, không thích lập vợ trong đời nữa. Để cho cuộc đời ông đừng bắt gặp, đừng trải qua như thế. Tô Diệp Lang thanh thản và an nhiên sống một mình cũng độ vài năm nay…
Truyện Ngắn Year 2013. May 2013 - Cuộc Di Tản Bất Thành - Có Nên Về Thăm Lại Việt Nam Hay Không? - Đỗ Trường - Người Bạn Thân - Mimosa Phương Vinh Lòng Tri Ân- Ký Ức Còn Lại Sau 36 Năm Vượt Biên - Người Quét Chợ
Chủ đề: ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KÌ CHỐNG MỸ (Ngữ văn 12, Học kì 2) I. Nội dung chủ đề 1) (2006) quy định các chuẩn kiến thức, kĩ năng cho các bài học về văn bản truyện hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945-1975 như sau: Mức độ cần đạt:
Dating 3 Months What To Expect. 1. Đặc trưng thể loại và cảm hứng sáng tác Giá trị của một truyện ngắn chính là sức dung chứa những ý tưởng lớn trong một “kích cỡ nhỏ” của tác phẩm. Một trong những tiền đề quan trọng làm nên thành tựu của văn học Việt Nam đó là hiện thực cách mạng khơi nguồn cho sự sáng tạo và là cảm hứng chủ đạo của nhiều tác phẩm văn chương. Truyện ngắn từ sau năm 1975 đã phản ánh rất rõ sự thay đổi của hiện thực cuộc sống, rõ nét nhất trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng… Nhận thức được điều này, khi tìm hiểu, tiếp cận truyện ngắn Việt Nam từ sau năm 1975, cần chú ý đến cảm hứng sáng tác của từng tác giả nói riêng và cảm hứng của thời đại nói chung. Khơi nguồn cảm hứng từ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là hiện thực cuộc sống được phản ánh qua cái nhìn của người nghệ sĩ. Đằng sau cái bức tranh bình minh trên biển đẹp tuyệt đích, hoàn mĩ ấy là sự thật tồi tệ, phũ phàng – cuộc sống của gia đình hàng chài một người đàn bà bị chồng hành hạ vô lí nhưng không bao giờ muốn từ bỏ kẻ độc ác ấy; những chiến sĩ nhiệt thành từng chiến đấu giải phóng miền Nam nhưng lại không thể nào giải thoát cho một người đàn bà bất hạnh. Còn trong truyện ngắn Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến là hiện thực cuộc sống thông qua nhân vật cô Hiền. Hình tượng ấy được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con của nó. Do vậy, cảm hứng chính của nhà văn trong tác phẩm này là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai, như tác giả đã khẳng định “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”. 2. Về không gian, thời gian nghệ thuật * Không gian nghệ thuật Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, văn xuôi thường viết về vấn đề đời tư, thế sự; không gian ở đó là không gian sinh hoạt đời thường. Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 cũng nằm trong dòng chảy chung của văn học nước nhà, thể hiện rõ nét trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải. Họ viết về cuộc sống thành thị, nông thôn, về số phận con người trong thời đại mới. Vì thế ta thường thấy xuất hiện những không gian trong sinh hoạt đời thường. Đó là nơi để nhân vật hoạt động và tự thể hiện mình trong cuộc sống thường ngày. Cái không gian chật chội của một gia đình có năm đứa con trên một con thuyền lênh đênh trên biển những lúc sóng to gió lớn; cũng có lúc khổ đau đến tận cùng vì người chồng vũ phu “cứ ba ngày một trận nặng, năm ngày một trận nhẹ”. Thế nhưng người vợ ấy vẫn không chịu bỏ chồng theo đề nghị của người làm công lí vì nhiều lí do mà bà đưa ra hết sức thuyết phục. Nhưng xét đến cùng, trong không gian ấy con người bộc lộ đến cùng bản chất nhiều mặt tốt – xấu, thiện – ác, cao cả – thấp hèn, cách đối nhân xử thế của mình. Qua đó tác giả thể hiện cái nhìn về những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh. * Thời gian nghệ thuật Đọc truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, chúng ta dễ dàng nhận ra thời gian nghệ thuật ở trong tác phẩm là thời gian của quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó đan quyện vào nhau, gắn kết với nhau để con người thể hiện mình, từ đó làm nên giá trị, ý nghĩa của tác phẩm. Điều đó thể hiện rõ nét qua hình ảnh cô Hiền – một người Hà Nội trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải luôn lặng lẽ giữ lấy nét hào hoa, thanh lịch của văn hoá Hà Nội lại được đặt giữa bối cảnh đã có sự đối lập giữa lối sống của người Hà Nội xưa với người Hà Nội hôm nay. Có thể nói rằng, các tác giả truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 đã rất thành công trong việc sử dụng thời gian như một phương tiện hữu hiệu để tạo nên hiệu quả nghệ thuật nhất định. Do vậy, tìm hiểu yếu tố thời gian nghệ thuật trong tác phẩm không những là để khám phá tác phẩm mà còn giúp học sinh thấy rõ được tài nghệ của nhà văn; có nhận thức được sự sâu sắc, tinh tế về nội dung của tác phẩm, thì việc tiếp nhận tác phẩm mới trở nên toàn vẹn hơn. 3. Ngôn ngữ, giọng điệu * Ngôn ngữ Ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 thể hiện hết sức phong phú, đa dạng vừa gần gũi, bình dị như cuộc sống hàng ngày lại vừa đầy suy tư, sâu lắng. Truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải và Chiếc thuyền ngoài xa của nguyễn Minh Châu là minh chứng hùng hồn cho đặc điểm đó. Sự lí giải của người đàn bà hàng chài trước tòa án huyện “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con rồi nuôi cho con đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!… vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”. Phải nói rằng, cái ngôn ngữ mà người đàn bà hàng chài đưa ra để giải thích lí do đối với chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng; dù không hoa mĩ, cầu kì, sắc sảo nhưng nó chứa đầy sức thuyết phục. Vì đó là ngôn ngữ của người đàn bà hàng chài, nó bình dị gần với cuộc sống đời thường nhưng mang đậm triết lí sâu sắc. Bởi đó là thực tế cuộc sống mà chỉ có họ mới là người nếm trải, lại thấm thía và thấu hiểu mà không ai có thể làm thay được. * Giọng điệu Sau năm 1975, khi chiến tranh đi qua, nhịp sống đời thường trở lại với tất cả những biểu hiện phong phú của đời sống ích kỉ, vị tha, cao thượng, thấp hèn, phàm tục…Văn xuôi từ chỗ “phản ánh hiện thực” đến chỗ “nghiền ngẫm hiện thực”, đi vào tìm hiểu “toàn bộ chiều sâu của tâm hồn con người”.Vì thế văn chương không thể chỉ có cảm xúc ngợi ca mà còn có đối thoại, đó chính là biểu hiện của mối quan hệ bình đẳng giữa nhà văn và độc giả. Thời kì này, nhà văn nhìn cuộc sống qua lăng kính đời tư, thế sự, quan tâm đến con người ở tư cách cá nhân. Từ giọng điệu trang trọng sử thi, sắc bén họ chuyển dần sang giọng điệu tâm tình, gần gũi, giản dị của đời thường. Con người không chỉ là đối tượng để ngợi ca mà còn là tiêu điểm để nhà văn khai thác bề sâu tâm hồn. Nếu như trước 1975, nhà văn ngợi ca những con người, những sự kiện mang tầm vóc sử thi thì sau 1975, tác phẩm truyện ngắn tập trung ngợi ca những con người bình dị, hồn nhiên thể hiện niềm tin của tác giả vào con người và cuộc đời. Việc ngợi ca đức hi sinh cao cả của người phụ nữ làm nghề chài lưới trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa đã cho thấy thái độ trân trọng, thấu hiểu và cảm thông của nhà văn đối với nhân vật mình. Hay trong truyện ngắn Một người Hà Nội, Nguyễn Khải đã cho thấy trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhân vật cô Hiền vẫn mãi là “hạt bụi vàng” giữa đất kinh kì “chói sáng những ánh vàng”. 4. Cốt truyện, kết cấu của tác phẩm * Cốt truyện Khi tìm hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, để giúp HS nắm được sự phát triển của cốt truyện, GV có thể yêu cầu HS kể lại tác phẩm sau khi đã đọc. Khi kể, các em có thể trình bày một cách chi tiết hoặc sơ lược, nhưng miễn là giới thiệu được câu chuyện xoay quanh phát hiện của nghệ sĩ Phùng và cuộc sống của gia đình hàng chài. Qua đó, nhà văn gửi gắm quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Nắm được cốt truyện tức là giúp HS củng cố được tri thức văn học đồng thời trau dồi năng lực tư duy, ngôn ngữ, phát triển năng khiếu thẩm mĩ cho HS. Điều quan trọng để nắm vững cốt truyện trong tác phẩm là phân tích các chặng đường phát triển chủ yếu của đó sẽ tạo ở các em một ấn tượng hoàn chỉnh về hình tượng tự sự ở trong tác phẩm. Nắm vững cốt truyện là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình hướng dẫn HS tìm hiểu những yếu tố về nghệ thuật của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 ở trường phổ thông. * Kết cấu Truyện ngắn từ sau năm 1975 đã không chịu đầu hàng trước hiện thực phức tạp, đa chiều của cuộc sống; đã đem lại nhiều kiểu kết cấu hết sức đa dạng, phong phú và linh hoạt. Đó là kiểu kết cấu tâm lí, giúp nhà văn có điều kiện thâm nhập vào thế giới bên trong của tâm hồn con người mà không cần nhiều lời. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc sống của gia đình người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa và những sinh hoạt quen thuộc dường như đã trở thành “nếp” trong gia đình cô Hiền trong Một người Hà Nội; tưởng chừng như rất đơn giản nhưng trong đó chất chứa bao nỗi niềm trăn trở của nhà văn về con người và cuộc sống. Dường như tác giả muốn trao quyền kết luận cho người đọc qua việc sử dụng lối kết cấu độc đáo này. Hay ở phần kết tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, hình ảnh người đàn bà “bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông”. Hình ảnh ấy gợi cho người đọc cảm nhận được rằng “người đàn bà” hòa lẫn trong đám đông ấy phải chăng còn bao số phận khác như người đàn bà hàng chài này chăng? Cuộc đời họ rồi sẽ đi về đâu… Kết cấu đó cũng gợi mở nhiều vấn đề, tạo ra nhiều khoảng trống để người đọc cảm nhận và giải mã khoảng trống đó. 5. Nhân vật trung tâm Khi tìm hiểu nhân vật trung tâm trong truyện ngắn, cần dựa vào các yếu tố lai lịch, ngoại hình, gốc gác, ngôn ngữ, nội tâm, cách ứng xử, cử chỉ, hành động của nhân vật. Phân tích, tìm hiểu nhân vật cô Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội đã cho thấy Điều mà tác giả quan tâm và tập trung thể hiện ở nhân vật cô Hiền chính là vẻ đẹp của một lối sống, nhân cách người Hà Nội, “một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn”, như chính lời của người kể chuyện nói về nhân vật. Truyện đưa ra nhiều chi tiết sự việc về nhân vật cô Hiền, nhưng chung quy lại vẫn là ở hai mối quan hệ chính gia đình và xã hội, với cách mạng. Với tư cách là người mẹ, người chủ gia đình, hay một công dân, ở nhân vật cô Hiền đều toát lên một vẻ đẹp của nhân cách, của lối sống văn hoá, của một bản lĩnh. Đó là con người luôn giữ vững những quan niệm và cách sống của mình, không bị biến suy theo những đổi thay của thời cuộc, lại tỉnh táo sáng suốt, không xu thời nhưng cũng không để bị rơi vào tình thế của kẻ lạc thời. Sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, giàu có; thời trẻ cô Hiền được cha mẹ cho phép mở một xa lông văn chương, nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân nghệ sĩ có tiếng của đất Hà thành. Như thế, cô thuộc thế hệ tân tiến trong lớp thanh niên thành thị thời trước cách mạng. Nhưng việc cô lấy chồng lại chọn “một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc”. Điều đó thể hiện rõ sự lựa chọn tỉnh táo và những quan niệm nghiêm túc của cô về hôn nhân và gia đình. Nhưng việc dạy dỗ con cái của cô là nhằm hướng tới cái quan trọng nhất trong nhân cách một con người… 6. Tình huống truyện Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa thuộc loại tình huống cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Điều đó thể hiện rõ nét thông qua quá trình nhận thức khá quanh co và được “vỡ ra” từ hiện thực cuộc sống của nhiếp ảnh Phùng và chánh án Đẩu. Để có được một tấm lịch nghệ thuật thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, nhiếp ảnh Phùng tới một vùng biển vốn là chiến trường cũ của anh. Và mất mấy ngày “săn tìm”, anh mới “chộp” được một tấm hình như ý. Đó là một sản phẩm quý hiếm của hóa công mà trong đời người nghệ sĩ không phải khi nào cũng có được. Nó giống như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Phùng trở nên bối rối và “trong tim như có cái gì bóp thắt vào”. Anh cảm thấy mình vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nhưng bước ra từ chiếc thuyền là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi; một gã đàn ông to lớn dữ dằn; một cảnh tượng tàn nhẫn gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo; đứa con thương mẹ đã đánh lại cha. Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ, như “chết lặng”, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Tuy nhiên, đó mới là phần khởi đầu của truyện cũng như của tình huống. Cuộc tiếp xúc giữa chánh án Đẩu và người đàn bà hàng chài đẩy tình huống truyện lên tầm cao của giá trị nhận thức. Theo lời mời của chánh án Đẩu – người có ý định khuyên bảo, thậm chí đề nghị người đàn bà ấy từ bỏ lão chồng vũ phu. Nhưng trước toà án, chị ta đã từ chối quyết liệt với những lí do không khỏi Phùng và Đẩu “đau đầu” suy nghĩ Đó là vì gã chồng ấy là chỗ dựa quan trọng của những đàn bà hàng chài như chị, nhất là khi biển động, phong ba. Hơn thế nữa, chị còn có những đứa con, chị phải sống vì chúng nhiều hơn là cho bản thân chị. Và quan trọng hơn là trên thuyền cũng có những lúc vợ chồng, con cái sống hoà thuận, vui vẻ… Như vậy, tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa giống như một vòng tròn đồng tâm mà người nhiếp ảnh Phùng cũng như chánh án Đẩu đều phải trải qua một quá trình nhận thức để đạt đến trạng thái “đốn ngộ” cho tâm hồn. Nguồn Dẫn theo bài viết HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG THI PHÁP HỌC VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 của Chu Đình Kiên, Trần Thị Hương
... BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN NGUYỄN THỊ BÍCH NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN KHẢI, MA VĂN KHÁNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN THÁI NGUYÊN - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN NGUYỄN THỊ BÍCH NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 QUA TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN KHẢI, MA VĂN KHÁNG Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 62. 22. 01. 21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC 1. PGS. TS. Nguyễn Thị Bích Thu 2. PGS. TS. Đào Thủy Nguyên THÁI NGUYÊN - 2014 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và nội dung này chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đó. Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014 Tác giả luận án Nguyễn Thị Bích ii MỤC LỤC Lời cam đoan ................................................................................................................ i Mục lục ........................................................................................................................ii Danh mục chữ viết tắt ................................................................................................ iv MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 4 4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 5 5. Đóng góp mới của luận án ...................................................................................... 6 6. Cấu trúc của luận án ................................................................................................ 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 7 Khái lược tình hình nghiên cứu lí thuyết tự sự .................................................... 7 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ............................................................................................................ 10 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng .......................................... 18 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu ............................................................................................ 18 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Khải .............................................................................................. 21 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của Ma Văn Kháng.................................................................................................... 24 CHƢƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỰ SỰ HỌC. KHÁI LƢỢC VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 ....................... 28 Một số vấn đề cơ bản của tự sự học ................................................................... 28 Người kể chuyện ............................................................................................. 28 Điểm nhìn nghệ thuật ...................................................................................... 32 Giọng điệu trần thuật ....................................................................................... 36 Khái lược về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ................................................... 40 Quá trình vận động của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975 đến nay ............. 40 iii Đổi mới tư duy nghệ thuật .............................................................................. 43 Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ................................................................................ 48 CHƢƠNG 3 NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975 CỦA NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN KHẢI, MA VĂN KHÁNG .... 56 Truyện ngắn kể theo ngôi thứ ba của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng .......................................................................................................... 56 Người kể chuyện ẩn mình kể theo điểm nhìn bên ngoài................................. 56 Người kể chuyện ẩn mình kể theo điểm nhìn bên trong ................................. 63 Người kể chuyện ẩn mình dịch chuyển điểm nhìn ......................................... 69 Truyện ngắn kể theo ngôi thứ nhất của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng .......................................................................................................... 80 Người kể chuyện xưng “tôi” duy nhất kể theo điểm nhìn đơn tuyến ............. 80 Nhiều người kể chuyện xưng “tôi” kể theo điểm nhìn đa tuyến ..................... 89 CHƢƠNG 4 GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN SAU 1975 CỦA NGUYỄN MINH CHÂU, NGUYỄN KHẢI, MA VĂN KHÁNG........ 101 Giọng điệu khẳng định, ngợi ca ....................................................................... 101 Giọng điệu trào lộng, châm biếm ..................................................................... 113 Giọng điệu xót xa, thương cảm ........................................................................ 120 Giọng điệu trầm tư, triết lí................................................................................ 130 Sự kết hợp, đan xen nhiều giọng điệu .............................................................. 139 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ..................................................................................................... 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152 Phụ lục .................................................................................................................... 167 iv DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CTNT Cốt truyện nghệ thuật ĐNBN Điểm nhìn bên ngoài ĐNBT Điểm nhìn bên trong ĐNĐaT Điểm nhìn đa tuyến ĐNĐT Điểm nhìn đơn tuyến ĐNPH Điểm nhìn phức hợp ĐNNT Điểm nhìn nghệ thuật NKC Người kể chuyện NT1 Ngôi thứ nhất NT2 Ngôi thứ hai NT3 Ngôi thứ ba 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Roland Barthes từng nói “Đã có bản thân lịch sử loài người, thì đã có tự sự” câu nói quen thuộc ở phương Tây “History is astory / L’Hi storie est unrécit” [165, tr. 12]. Tự sự gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của lịch sử loài người nhưng tự sự học Narratology - một bộ môn nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng nghiên cứu thì phải đến thế kỉ XX mới được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và trở thành một lĩnh vực học thuật được quan tâm. Những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà lí luận Pháp đã đề cập về tự sự học và giải quyết các vấn đề liên quan đến chúng. Sau đó là các nhà nghiên cứu của Mĩ, Anh, Trung Quốc... Ở Việt Nam, tự sự học nhanh chóng trở thành lĩnh vực thu hút các nhà nghiên cứu. Nhiều công trình đã lấy lí thuyết tự sự làm cơ sở để khám phá cấu trúc văn bản truyện kể. Như vậy, tự sự học là “bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, và nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn, thì đó là một bộ phận cấu thành của hệ hình paradigme lí luận hiện đại” [165, tr. 11]. Hơn nữa, tự sự học có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu. Nó không đơn thuần là nghiên cứu các thể loại tự sự văn học mà còn nghiên cứu những lĩnh vực phi văn học như điện ảnh, nghệ thuật thị giác… Mieke Bal cho rằng, tất cả các khách thể văn hoá bộ luật, tranh ảnh, tư liệu lịch sử… đều ít nhiều có liên quan đến tự sự. Trần Đình Sử đã khẳng định tự sự học là “một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng” [165, tr. 10]. Vì vậy, tự sự là một thái độ văn hoá và nghiên cứu tự sự cũng là nghiên cứu văn hoá. Lí thuyết tự sự nghiên cứu nhiều phương diện phong phú và đa dạng liên quan đến nghệ thuật trần thuật loại hình trần thuật, cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu... với nhiều quan điểm khác nhau. Vận dụng lí thuyết tự sự để nghiên cứu văn học đòi hỏi người nghiên cứu phải “nhìn” từ góc độ thi pháp. Luận án của chúng tôi vận dụng lí thuyết về ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật trong cấu trúc văn bản truyện kể để nghiên cứu nghệ thuật tự 2 sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Đất nước trở lại quỹ đạo thời bình, xã hội trong cơn chuyển mình lớn và đối mặt với biết bao những vấn đề riêng - chung cần giải quyết. Các nhà văn Việt Nam thoát ra khỏi ánh hào quang của những hình mẫu kì diệu và lí tưởng để trở về nhịp điệu cuộc sống đời thường với tất cả những biểu hiện đa dạng, phức tạp của nó. Sự đổi mới trong quan niệm về hiện thực và con người đã “mở rộng biên độ” của văn học. Văn học tiếp cận đời sống một cách biện chứng. Người viết cũng có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, tính dân chủ được thể hiện rất rõ. Nhà văn không có quyền áp đặt người đọc theo một tư tưởng có sẵn. Độc giả cũng có quyền lựa chọn tác giả phù hợp với thị hiếu của riêng mình. Tác giả - nhân vật và người đọc được đặt trong mối quan hệ đa chiều để tranh biện và đi tìm chân lí. Người viết thường không ngại “xé rào” bước ra trò chuyện trực tiếp với bạn đọc. Các điểm nhìn trần thuật được gia tăng và gắn với nó là sự phong phú về giọng điệu trần thuật. Điều này thể hiện khá rõ trong truyện ngắn. Truyện ngắn đã chứng tỏ là thể loại năng động, có khả năng nắm bắt vấn đề một cách nhanh nhạy, kịp thời mà vẫn chuyển tải được những vấn đề quan trọng của đời sống đương thời. Thể loại này mang trong nó những dấu hiệu của sự vận động và biến đổi với nhiều khuynh hướng khác nhau truyện ngắn viết theo lối truyền thống và tuân thủ những đặc trưng vốn có của thể loại; truyện ngắn cách tân trên nền truyền thống; truyện ngắn cách tân theo hướng hiện đại. Chúng tôi đi sâu nghiên cứu truyện ngắn của ba tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng những nhà văn sáng tác theo khuynh hướng cách tân trên nền truyền thống từ góc nhìn tự sự để thấy được sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật và sự vận động của cấu trúc thể loại trong bối cảnh mới. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng là những cây bút có “thương hiệu”. Họ đã góp phần làm nên diện mạo của văn học Việt Nam trong thời kì mới. Nguyễn Minh Châu được coi là một 3 hiện tượng của văn học Việt Nam ở nửa sau thế kỉ XX. Với quan niệm “nhà văn phải đứng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa thập loại chúng sinh”, Nguyễn Minh Châu đã khắc khoải về nhân sinh để đi tìm những “hạt ngọc” cho đời. Là một nhà văn suốt đời khao khát đi tìm cái đẹp và sự chân thật của cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật. Ông có một vị trí đặc biệt quan trọng - người “tiền trạm đổi mới” Phong Lê, “người mở đường đầy tài hoa và tinh anh” Nguyên Ngọc trong nền văn học đương đại Việt Nam. Còn Nguyễn Khải lại được đánh giá là một trong số ít người viết mà đời người, đời văn có mối liên quan chặt chẽ. Suốt nửa thế kỉ lao động sáng tạo, ngòi bút của ông đã gắn bó với lịch sử dân tộc. Bằng cái nhìn đa chiều, đa diện, Nguyễn Khải thể hiện trong sáng tác của mình nhãn quan tỉnh táo trước hiện thực đời sống. “Muốn hiểu con người thời đại với cái hay, cái dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, phải đọc Nguyễn Khải” [20, tr. 61]. Bên cạnh Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng là cây bút chuyên nghiệp đầy bản lĩnh và tài năng. Con người trước lăng kính tâm hồn nhà văn không chỉ là đối tượng ngợi ca mà còn là tiêu điểm để “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn” Lã Nguyên. Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng là những đại biểu tinh anh của phong trào đổi mới văn học sau 1975. Họ là những cây bút trưởng thành trong chiến tranh và trở về từ chiến tranh nhưng trong bối cảnh đổi mới, họ vẫn là những tác giả có nhiều bạn đọc. Cả ba nhà văn đều là những tấm gương lao động sáng tạo và được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh - giải thưởng cao quý về văn học nghệ thuật. Với những lí do như vậy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng”. Ở luận án này, chúng tôi tiếp cận truyện ngắn của ba tác giả tiêu biểu thuộc thế hệ “3X” Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, Nguyễn Khải sinh năm 1930 và Ma Văn Kháng sinh năm 1936 có cùng một hành trình, cùng một khởi điểm, cùng chung một mô hình sáng tác của cùng một thế hệ nhà văn mở đầu cho văn học đổi mới và đều viết theo lối cách tân trên nền truyền thống từ góc nhìn thi pháp để thấy được sự chuyển động của thể loại truyện ngắn trong bối cảnh mới của đời sống văn học. 4 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu - Làm rõ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng ở phương diện ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật. - Tìm ra những điểm chung của thế hệ, điểm riêng trong phong cách của từng tác giả và khẳng định đóng góp của ba nhà văn trong sự vận động, đổi mới thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Nhiệm vụ nghiên cứu - Vận dụng lí thuyết tự sự học hiện đại để tìm hiểu và phân tích truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng nhằm làm nổi bật giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của các tác phẩm, thấy được điểm chung, điểm riêng của ba nhà văn trong dòng chảy của truyện ngắn Việt Nam sau 1975. - Tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng trong thế đối sánh với truyện ngắn Việt Nam sau 1975 để chỉ ra những nét riêng biệt, những thành công và giới hạn của thế hệ nhà văn trưởng thành trong chiến tranh, thấy được đặc điểm truyện ngắn Việt Nam sau 1975 từ góc nhìn tự sự. - Thông qua việc tìm hiểu sự đổi mới mô hình tự sự của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, chúng tôi thêm một lần nữa khẳng định diện mạo tinh thần, vai trò, vị trí của họ trong sự vận động của thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975 nói riêng và trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật tự sự trên các bình diện cơ bản như ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi vấn đề nghiên cứu Nghệ thuật tự sự bao gồm nhiều phương diện. Ở luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu vấn đề ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật. Đó là những yếu tố nổi bật tạo nên phong cách nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. 5 - Phạm vi tư liệu + Đề tài chủ yếu khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng nhưng tập trung vào những sáng tác sau 1975. Đặc biệt, chúng tôi chú ý những tác phẩm trong tuyển tập truyện ngắn của ba nhà văn Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 2006 của Nhà xuất bản Văn học; Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải 2007 của Nhà xuất bản Hội Nhà văn; Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng 2002 của Nhà xuất bản Hội Nhà văn. + Một số truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn cùng thế hệ và khác thế hệ các nhà văn “6X”, “7X”, “8X”, “9X” để so sánh. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong luận án này, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp sau Phương pháp tiếp cận tự sự học Vận dụng lí thuyết tự sự để phân tích, lí giải những cách tân trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. Phương pháp thống kê Phương pháp này được áp dụng trong quá trình khảo sát văn liệu để từ đó có thể đưa ra những kết luận khoa học về các phương diện của nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của ba nhà văn mà luận án quan tâm. Phương pháp hệ thống Phương pháp này giúp chúng tôi nhìn truyện ngắn của ba nhà văn như một hệ thống và đặt nó trong hệ thống lớn hơn là tiến trình văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời có thể đưa ra đánh giá về những đóng góp và giới hạn trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng một cách khách quan và toàn diện. Phương pháp loại hình, phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại Nhằm tìm ra những đặc điểm tương đồng loại hình về phương diện nghệ thuật trần thuật, chỉ ra các kiểu, dạng NKC, phương thức trần thuật và giọng điệu trần thuật… từ góc nhìn thể loại. Phương pháp so sánh Để có cái nhìn sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, chúng tôi so sánh truyện ngắn của ba nhà văn với nhau và với truyện ngắn của các nhà văn khác, đồng thời đối 6 chiếu truyện ngắn của ba nhà văn ở hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975. Từ đó, chỉ ra những vận động về nghệ thuật trần thuật. Phương pháp tổng hợp Phương pháp này giúp chúng tôi đưa ra những khái quát trên cơ sở phân tích ngữ liệu cụ thể. 5. Đóng góp mới của luận án - Luận án vận dụng những thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới và ở Việt Nam để mô tả, phân tích sâu một số phương diện cơ bản của nghệ thuật tự sự như ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng nhằm làm nổi bật giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm. Từ đó, người viết xác định điểm tương đồng và khác biệt trong nghệ thuật tự sự và trong phong cách nghệ thuật của ba tác giả. - Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của nhóm tác giả đã có vị trí và đóng góp to lớn trong nền văn học Việt Nam hiện - đương đại. Trên cơ sở nghiên cứu đó, người viết khẳng định sự đổi mới và những thành công về tổ chức tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của ba nhà văn “gạo cội” - tiêu biểu cho thế hệ những nhà văn mở đường của nền văn học Việt Nam từ sau 1975. - Từ thực tiễn sáng tác của ba nhà văn, từ sự đối chiếu, so sánh truyện ngắn của họ ở hai giai đoạn trước - sau 1975 và so sánh với truyện ngắn của các nhà văn khác, luận án chỉ ra sự vận động và đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1975. - Luận án góp một tài liệu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở các trường đại học, cao đẳng, trung học. 6. Cấu trúc của luận án Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2 Một số vấn đề cơ bản của tự sự học. Khái lược về truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Chương 3 Ngôi kể và điểm nhìn trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng Chương 4 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Khái lƣợc tình hình nghiên cứu lí thuyết tự sự Tự sự học là “một nhánh của thi pháp học hiện đại” [165, tr. 11]. Chủ nghĩa hình thức Nga với những tên tuổi V. Shklovski 1893 - 1984, B. Eikhenbaum 1886 - 1959, B. Tomachevski 1890 - 1957… đã đặt nền móng cho những cơ sở ban đầu của lí thuyết tự sự. Họ đề cập đến nhiều phương diện cơ bản của cấu trúc tự sự ở phương diện lí thuyết như kết cấu tác phẩm, cốt truyện, nhân vật hay nghệ thuật tổ chức thời gian… B. Tomachevski vốn là một nhà phê bình thơ nhưng với tiểu luận Hệ chủ đề, ông đã trở thành người đầu tiên nghiên cứu thủ pháp của cốt truyện. Ông phân biệt khái niệm chuyện kể fabula, fable và cốt truyện sujet “tuyến hành động liên quan đến chuyện kể, còn tuyến trần thuật thì liên quan đến cốt truyện ” dẫn theo [165, tr. 30]. Ông phân biệt “thời gian của chuyện kể” và “thời gian trần thuật”, đồng thời trình bày nhiều thủ pháp như trì hoãn, bình luận ngoại đề, che giấu bí mật, đảo lộn thời gian… V. Shklovski qua các tiểu luận Nghệ thuật nhƣ là thủ pháp, Cấu trúc của truyện ngắn và tiểu thuyết… cho rằng “Nhiều tác phẩm tự sự là một tổ hợp các kết cấu vòng tròn và kết cấu bậc thang, trong đó các tình tiết được sắp xếp thành những tầng nấc kế tiếp nhau” dẫn theo [165, tr. 31]. Ông còn nói đến “thủ pháp đóng khung” và “thủ pháp xâu chuỗi” dẫn theo [165, tr. 32] trong văn tự sự. B. Eikhenbaum trong tiểu luận Về lí thuyết văn xuôi đã cho rằng “Truyện ngắn là hình thức sơ yếu của văn xuôi”, “nhà văn thường xây dựng truyện ngắn trên cơ sở một mâu thuẫn, một tan vỡ, một sai lầm hay một tương phản” dẫn theo [165, tr. 34]. Chủ nghĩa hình thức Nga đặt viên gạch đầu tiên cho lí thuyết tự sự học nhưng góp phần hình thành bộ môn tự sự học thì phải kể đến Chủ nghĩa cấu trúc với những tên tuổi như R. Barthes, Tz. Todorov, A. J. Greimas, G. Genette… Chủ nghĩa cấu trúc đi tìm mô hình cho hình thức tự sự. mở đầu với công trình Dẫn luận 8 phân tích tác phẩm tự sự 1968 và S/Z 1970 tác phẩm này đã bắt đầu chuyển sang hậu cấu trúc chủ nghĩa. Todorov là một trong những người đầu tiên đề xuất thuật ngữ tự sự học với chuyên luận Thi pháp văn xuôi. Todorov còn có công trình Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”… Từ góc độ ngữ pháp, Todorov coi “nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ” dẫn theo [165, tr. 14], G. Genette thì tuyên bố “mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu” dẫn theo [165, tr. 14], R. Barthes cũng tán thành quan điểm đó… Như vậy, mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là “nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự” dẫn theo [165, tr. 14]. Tiếp theo phải kể đến các nhà tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa như M. Bakhtin, Iu. M. Lotman, B. Uspenski… Các tác giả này quan tâm đến các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở Jean - Claude Coquet. Hình thức tự sự chính là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm. Tổng quan quá trình nghiên cứu của lí thuyết tự sự, nhà lí luận Mĩ Gerald Prince đã chia làm ba nhóm theo ba loại hình như sau Nhóm thứ nhất gồm những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V. Propp, Todorov, Barthes, Remak, Norman Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau… chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu; nhóm thứ hai gồm G. Genette, Dolezel, Micke Bal… xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ biểu đạt và vai trò của người trần thuật là quan trọng nhất; nhóm thứ ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman lại coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể. Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự với các vấn đề cần phải tìm tòi, suy ngẫm như vấn đề NKC, điểm nhìn, dòng ý thức, không gian, thời gian, giọng điệu nghệ thuật… Lí thuyết tự sự sẽ giúp cho ta nghiên cứu nghệ thuật tự sự của các thể loại nói chung và của từng tác phẩm văn học cụ thể nói riêng, qua đó cho thấy cả truyền thống văn học, văn hoá của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam, năm 2001, hội thảo quy mô toàn quốc về tự sự học đã được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong bài viết Tự sự học - một bộ môn 9 nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, Trần Đình Sử đã hệ thống, khái lược những vấn đề tự sự từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, Platon, Aritoste, Tz. Tododov, Genette… Qua đó, ông khẳng định vai trò quan trọng của tự sự học. Trong công trình Dẫn luận thi pháp học [167], Trần Đình Sử đã xác định vị trí của thi pháp học trong khoa nghiên cứu văn học, đối tượng phạm trù và phương pháp nghiên cứu thi pháp, ông tập trung đi sâu hệ thống, cắt nghĩa những khái niệm thuộc về trần thuật học như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian - không gian nghệ thuật, tác giả và kiểu tác giả, tính quan niệm và cấu trúc thể loại, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn từ nghệ thuật… Trần thuật học - Nhập môn lí thuyết trần thuật học của tác giả Manfred Jahn công bố vào ngày 28 - 07 - 2003 [131], đăng tải trên trang web đã xây dựng một hệ thống những khái niệm nền tảng về truyện kể và chỉ ra cách sử dụng chúng khi phân tích tác phẩm. Những định nghĩa này được dựa trên một loạt bài nhập môn cổ điển như cấu trúc của trần thuật, kể chuyện tiêu điểm và tình huống trần thuật, thì, thời và thức trần thuật, nhân vật và diễn ngôn… Cao Kim Lan trong bài viết Lí thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Scholes và R. Kellogg [113] đã dựa vào cuốn Bản chất của tự sự The nature of Narrative, Oxford University, tái bản 1968 để giới thiệu về điểm nhìn nghệ thuật và sự chi phối của điểm nhìn trong truyện kể, vấn đề quyền năng của NKC với điểm nhìn của nhân vật, điểm nhìn của NKC và điểm nhìn của người đọc… Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật [201] đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ông một cách hệ thống với những khái niệm liên quan đến trần thuật. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ hai vấn đề mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là tình huống trần thuật và người nghe chuyện. Một trong những công trình có ý nghĩa lớn với việc giới thiệu lí thuyết tự sự vào Việt Nam đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử [165] do Trần Đình Sử chủ biên. Trong đó, Phan Thu Hiền có bài viết Về lí thuyết tự sự của Northrop Frye [165, tr. 56 - 70]. Tác giả giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan 10 trọng có ảnh hưởng sâu sắc nhất của lí thuyết Phê bình huyền thoại Mythcritic còn gọi là lí thuyết Phê bình nguyên mẫu archetypal critism với quan niệm cho rằng mục tiêu của văn chương là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống. Nguyễn Đức Dân giới thiệu về Greimas trong bài Greimas - Ngƣời xây nền cho trƣờng phái kí hiệu học Pháp [165, tr. 39 - 55] với mô hình vai hành động, cấu trúc cơ sở của nghĩa, mô hình cấu tạo. Tiếp theo, đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử Tập 1 và tập 2 [166] cũng do Trần Đình Sử chủ biên. Ở đây, chúng tôi quan tâm đến bài viết Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật của Phương Lựu, Ngƣời kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự [165, tr. 196 - 208] của Nguyễn Thị Hải Phương, Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể của Đặng Anh Đào [165, tr. 169 - 178]. Qua những bài viết này, các tác giả đã góp phần làm rõ các khái niệm tự sự học như NKC, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Như vậy, lí thuyết tự sự luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Nó có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc tiếp cận tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm văn xuôi. Ở Việt Nam, ngoài những tác phẩm dịch thuật, ít có công trình nghiên cứu sâu về nghệ thuật tự sự từ phương diện lí thuyết. Giới nghiên cứu tự sự tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về các phương diện của tự sự như thời gian và không gian trần thuật, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, tình huống trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Nói tóm lại, tất cả các thành phần của nghệ thuật tự sự đều được các học giả nghiên cứu và làm rõ qua các tác phẩm văn học. Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi được tiếp xúc nhiều với bài viết và công trình lí luận có quy mô khác nhau. Trước thành tựu của công cuộc đổi mới văn học dân tộc sau 1975, đặc biệt là thể loại truyện ngắn, các nhà nghiên cứu phê bình đã tập trung bút lực nhằm giúp bạn đọc tiếp cận và thẩm định những cách tân mới mẻ trong “bước ngoặt” của dòng chảy văn học hiện đại Việt Nam. 11 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu từ góc nhìn tự sự, một vấn đề lí luận mới mẻ và còn nhiều “lời ngỏ”. Cuốn 50 năm - Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám [153] được chia làm ba phần Đặc điểm, diện mạo, hướng tiếp cận; Văn học và chiến tranh cách mạng; Những vấn đề thi pháp thể loại. Trong đó, chúng tôi chú ý đến bài viết Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị Bình [153, tr. 207 - 227]. Sau khi xác định tiêu chí, nguyên tắc xây dựng nhân vật của văn học sau 1975 trong thế đối sánh với văn học trước 1975, tác giả bài viết đã khẳng định nét mới rõ nhất trong việc xây dựng nhân vật là sự thay đổi mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, giữa nhà văn và bạn đọc. Đó là “mối quan hệ bình đẳng, là xu thế đối thoại dân chủ giữa nhiều ý thức, mỗi nhân vật có thể có một điểm nhìn đời sống độc lập với điểm nhìn của tác giả” [153, tr. 218]. Văn học Việt Nam thế kỉ XX - Những vấn đề lịch sử và lí luận [46] là công trình khoa học trọng điểm của Đại học Quốc Gia Hà Nội do một tập thể Viện sĩ, Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội hợp tác biên soạn. Công trình đã dành hẳn phần ba để nghiên cứu về “Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000”. Trong đó, chương VI đề cập đến “Một số vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam”. Các tác giả cho rằng giai đoạn 1975 - 2000 là “thời của truyện ngắn”, truyện ngắn thực sự khởi sắc, “các nhà văn đã có công tìm tòi nghệ thuật làm cho thể loại “nhỏ” có sức chứa”, “có khả năng khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo chiều sâu” [46, tr. 261]. Và sau đó, họ tập trung nghiên cứu vào hai nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp - những tên tuổi được dư luận quan tâm và có vị trí trên văn đàn. Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “một phong cách đa dạng và biến ảo vì thế giọng điệu cũng luân phiên cho phù hợp với đối tượng” với “giọng chủ âm là trữ tình lo âu”, gần cuối đời có hiện tượng pha giọng. Còn Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn “có công tìm tòi làm cho truyện ngắn đa dạng về hình thức”, là một hiện tượng văn học “hai lần lạ”, truyện ngắn của ông “có sức mạnh ở các chi tiết nghệ thuật”. Ta nhận thấy, bàn về vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam, các tác giả đã 12 bày tỏ quan điểm về tình huống truyện, cốt truyện, các kiểu truyện ngắn hiện đại và nghệ thuật kể chuyện từ góc nhìn tự sự học. Tuy nhiên, những nhận xét vẫn chỉ dừng ở những nhận định khái quát, điểm xuyết mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc văn bản truyện kể. Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy [158] là cuốn sách tập hợp những bài viết của Hội thảo khoa học do khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức. Cuốn sách được tập hợp theo ba phần Những vấn đề chung; Những vấn đề về văn xuôi và Những vấn đề về thơ. Chúng tôi quan tâm đến bài viết Quan niệm về thể tài truyện ngắn trong văn học Việt Nam sau 1975 của Phùng Ngọc Kiếm [158, tr. 192 - 202], Nghiên cứu và dạy học truyện ngắn hiện đại của Nguyễn Thanh Hùng [158, tr. 293 - 299], Một vài khuynh hƣớng vận động của điểm nhìn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Văn Hiếu. Trong đó, bài viết của Nguyễn Văn Hiếu [158, tr. 300 - 306] tìm hiểu về sự vận động của điểm nhìn nghệ thuật trong tiến trình của văn xuôi sau 1975. Bài viết đã chỉ ra những khuynh hướng vận động nổi bật của điểm nhìn như khuynh hướng cá thể hóa, khuynh hướng đối thoại, khuynh hướng gián cách. Người viết khẳng định “Dấu ấn cá tính trong điểm nhìn trần thuật dần trở thành một tiêu chí của giá trị, một mối quan tâm của văn chương. Cá thể hóa là khuynh hướng vận động tất yếu của điểm nhìn, phù hợp với nhu cầu của nhà văn và yêu cầu của thời đại”; “Sức nặng của điểm nhìn mang tính đối thoại, một mặt xác lập các chuẩn mực mới, nhưng mặt khác nó đã làm nảy sinh ở người đọc tâm lí tự vấn trước hiện thực được kể đến”; “Nhà văn là NKC thường di chuyển điểm nhìn theo nhiều chủ thể khác nhau”; “Gián cách đòi hỏi người cầm bút phải tìm cách viết khác, người đọc phải hình thành một thị hiếu khác, phê bình văn học phải hình thành bậc thang giá trị khác” [158, tr. 300 - 305]. Tuy nhiên, những nhận xét này mới chỉ nằm trong khuôn khổ của một bài viết nên sự lí giải chưa thực thấu đáo. Tập hợp tâm huyết của nhiều nhà nghiên cứu phê bình, cuốn Truyện ngắn Việt Nam - Lịch sử, thi pháp, chân dung [47] do Phan Cự Đệ chủ biên đã được xuất bản năm 2007. Cuốn sách dày gần 800 trang nghiên cứu hai vấn đề là Truyện 13 ngắn Việt Nam thời kì trung đại và Truyện ngắn Việt Nam thời kì hiện đại. Các tác giả cũng tập trung làm rõ lịch sử phát triển của các khuynh hướng và loại hình truyện ngắn chỉ ra những nguyên nhân của quá trình đổi mới truyện ngắn từ 1976 - 2006; đặc trưng của thể loại truyện ngắn hiện đại, truyện ngắn trong mối quan hệ với các thể loại khác. Các tác giả đã lí giải về đặc trưng thi pháp của truyện ngắn hiện đại như kết cấu và cốt truyện, khoảnh khắc và tình huống; các kiểu của truyện ngắn hiện đại như truyện ngắn mang tầm khái quát cao, truyện ngắn liên hoàn và các kiểu truyện ngắn khác. Từ những vấn đề lí luận đó, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu và định hình phong cách truyện ngắn của các thế hệ nhà văn từ Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao… đến các nhà văn kháng chiến như Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng… và sau 1975 như Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp… Cuốn Tự sự học, những vấn đề lịch sử và lí luận [165] do Trần Đình Sử chủ biên đã tập hợp những bài viết về một số vấn đề cơ bản của lí thuyết tự sự học và những bài viết vận dụng lí thuyết tự sự học vào tìm hiểu văn liệu cụ thể. Chúng tôi đặc biệt chú ý tới bài viết Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thành công đáng chú ý của văn xuôi sau 1975 của Nguyễn Thị Bình [165, tr. 351 - 367]. Tác giả bài viết đề cập đến hai khía cạnh trong sự chuyển động mạnh mẽ của văn xuôi sau 1975 là ngôn ngữ và giọng điệu. Qua khảo sát, tác giả bài viết đã định dạng những phong cách ngôn ngữ mới ngôn ngữ mang nhãn quan hiện thực, đời thường Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh…; ngôn ngữ tăng cường tính tốc độ, thông tin và tính triết luận Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…. Sự đa dạng về giọng điệu cũng là nét mới của văn học sau 1975. Tác giả chỉ ra bên cạnh giọng tự tin, tự hào xuất hiện giọng hoài nghi trong sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp…; giọng chất vấn, đay đả trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng…; giọng từng trải, chiêm nghiệm trong sáng tác của Nguyễn Khải, Lê Lựu, Chu Lai, Phạm Hải Vân, Nguyễn Việt Hà…; giọng giễu nhại trong sáng tác của các nhà văn trẻ… Từ đó, tác giả đưa ra nhận xét khái quát “Mười năm đầu sau khi cuộc chiến tranh chống Mĩ kết thúc, văn xuôi nước ta mang giọng chủ 14 đạo trầm tĩnh, khách quan. Từ khoảng giữa thập kỉ 80, nổi lên giọng phê phán, phân tích xã hội …. Sau đó giọng phê phán trầm xuống …. Giọng điệu văn xuôi dần mang nhiều suy tư khắc khoải, nhiều chiêm nghiệm về thế sự nhân sinh. Từ đầu thập kỉ 90, nó bắt đầu thăng bằng lại, tự điều chỉnh những ồn ào thái quá” [165, tr. 367]. Đó là cái nhìn khá tinh tế và sắc sảo. Tuy nhiên, mọi sự phân tích, lí giải chỉ nằm trong phạm vi của một bài viết. Sự xuất hiện của thi pháp học hiện đại và những thành tựu của nó đối với lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy văn học ở nước ta là sự nỗ lực của nhiều người, trong đó phải kể đến vai trò quan trọng của Trần Đình Sử. Nhân dịp kỉ niệm 70 năm ngày sinh của ông, Nguyễn Đăng Điệp - Nguyễn Văn Tùng đã tuyển chọn và biên soạn công trình Thi pháp học ở Việt Nam [53]. Công trình gồm ba phần Phần I Toàn cảnh thi pháp học bức tranh toàn cảnh thi pháp học từ truyền thống đến hiện đại; các khuynh hướng thi pháp học trên thế giới; Phần II Tuyển chọn những công trình tiêu biểu bằng chứng cụ thể, sinh động nhất về sức sống và tính hiệu quả của thi pháp học trong đời sống nghiên cứu văn học; Phần III Ấn tượng Trần Đình Sử những đánh giá, nhận định về Trần Đình Sử. Trong công trình này, bài viết của Lê Huy Bắc về Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại [53, tr. 335 346] đã nêu ra những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm như khái niệm giọng voice, giọng điệu tone hoặc tone of view và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại. Tác giả đã tập trung vào ba kiểu giọng điệu thể hiện hai trạng thái tâm lí của NKC là giọng điệu dửng dưng và hoài niệm; giọng điệu trung tính người kể chuyện giữ sắc giọng bình thường khi trần thuật các sự kiện, hành động; giọng điệu vô âm sắc thái độ lạnh lùng; giọng điệu cảm xúc bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, những chiêm nghiệm sâu xa.... Văn học Việt Nam sau 1975 có vị trí quan trọng trong dòng chảy của văn học dân tộc. Vì thế, những năm gần đây. Nó cũng được dành một vị trí xứng đáng trong văn học nhà trường, cuốn Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, tập 2 từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 [123] xuất bản đã đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của đông đảo các nhà giáo, học sinh, sinh viên. Chương X của giáo trình đề cập đến nội dung “Văn xuôi từ sau 1975” đã chỉ ra những đổi mới về tư tưởng và nghệ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS PHAN TRỌNG THƯỞNG Thái Nguyên, 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Lời cảm ơn Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn - Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên. - Các thầy cô giáo ở Viện Văn học, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã trực tiếp giảng dậy trong suốt khoá học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng, người thầy đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều để luận văn có thể hoàn thành. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Trần Quốc Tuấn Nam Định đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Minh Nguyệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Mục lục Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài.................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề........................................................................................ 3 Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của truyện ngắn sau 1975................................................................................. 3 Những bài nghiên cứu về tác giả.................................................... 7 Những bài viết về tác phẩm............................................................ 8 3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu........................................................ 9 nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................... 9 Đối tượng nghiên cứu.................................................................... 9 4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 10 5. Đóng góp của luận văn.......................................................................... 10 6. Cấu trúc của luận văn............................................................................ 10 Phần nội dung Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975- 1985 1. Bối cảnh lịch sử, xã hội........................................................................ 12 Tình hình đất nước sau chiến tranh...............................................12 Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội....................................................................................... 13 Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc............................................................. 14 2. Tình hình phát triển của văn xuôi......................................................... 15 3. Diện mạo của truyện ngắn.................................................................... 19 Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người......................................................................................................... 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng.............................35 Thành tựu của truyện ngắn.......................................................... 37 Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn việt nam 1975-1985 1. Những thay đổi về đề tài ở truyện ngắn sau 1975..................... ........... 41 Sự tiếp tục đề tài chiến tranh.......................................................... 41 . Sự xuất hiện và chiếm lĩnh của đề tài thế sự, đời tư..................... 51 2. Sự chuyển đổi cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn 1975- 1985..... 62 Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư...... 63 Cảm hứng đạo đức giữ vị trí quan trọng....................................... 65 Sự trở lại của cảm hứng bi kịch............................................... ... 69 cảm hứng phê phán........................................................................71 Cảm hứng nhân văn.......................................................................72 Chương III Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật truyện ngắn việt nam 1975-1985 1. Đặc điểm kết cấu cốt truyện.................................................................75 Khái niệm và vai trò của cốt truyện..............................................75 Sự vận động trong việc xây dựng cốt truyện của truyện ngắn sau 1975....................................................................................................76 Các đặc điểm kết cấu cốt truyện................................................. 80 2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn 1975-1985............ 87 Các kiểu nhân vật mới ............................................................. 89 . Những đổi mới bước đầu trong nghệ thuật xây dựng nhân vật................................................................................................. 96 3. Nghệ thuật trần thuật...........................................................................103 Sự đa dạng về điểm nhìn trần thuật............................................ 103 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật..................................... 107 Phần kết luận.............................................................................. ........ 110 Tài liệu tham khảo ............................................................................ .. 113 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 5 khẳng định thì giai đoạn sau 1975, đặc biệt từ đầu những năm 80 là thời kỳ chuẩn bị tích cực, là bước khởi động tạo đà cần thiết cho công cuộc đổi mới văn học. Có thể coi văn học giai đoạn 1975 -1985 là thời kỳ tiền trạm cho cái mới. Chính vì vậy, khi tìm hiểu tiến trình đổi mới của văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng không thể không tìm hiểu bước đầu xây nền đắp móng trong giai đoạn tiền đổi mới. Dẫu đó là sự chuẩn bị âm thầm nhưng rất tích cực và cần thiết, là bước tạo đà cho quá trình đổi mới văn học hôm ngắn không phải là thể loại duy nhất nhưng lại tập trung nhiều nhất những yếu tố của một nền văn học đang đổi mới như văn học Việt Nam sau đại thắng mùa xuân năm 1975. Chính những điều đó đã giúp tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. 2. Lịch sử vấn đề. Những bài nghiên cứu, những ý kiến về những vấn đề khái quát của truyện ngắn sau 1975. Trong bài “Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1975” Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dậy, Nxb Giáo dục, 2006, tác giả Nguyễn Văn Long nhận xét Từ 1975- 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến. Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương tiện nghệ thuật và cả quy luật vận động của văn học. Những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã giúp thu hẹp bớt khoảng cách khá xa giữa văn học với đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi bước vào thời kỳ đổi mới. Có thể coi đó là một nhận xét khái quát về đặc điểm của văn xuôi giai đoạn 1975- 1985, trong đó có truyện ngắn. Một thể loại luôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 luôn có mặt nhiều, khi lại nhận lãnh trách nhiệm dò lối, mở đường Vương Trí Nhàn ở những giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Đi sâu vào những vấn đề của thể loại truyện ngắn ở giai đoạn này, có nhiều ý kiến đánh giá trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Những năm liền ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, nền văn học cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo quán tính từ trong thời kỳ chiến tranh. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn bao trùm lên hầu hết các sáng nhiên, trong truyện ngắn và cả truyện vừa thấy rõ nét một hướng đi vào những khoảnh khắc thưòng nhật của chiến tranh, đi sâu hơn vào diễn biến tâm lý của nhân vật, vào những cảnh ngộ và xung đột nội tâm truyện ngắn cũng có ưu thế trong việc đặt nhân vật trong mối tương quan hôm qua và hôm nay, để làm nổi bật lên những vấn đề có ý nghĩa đạo đức nhân sinh Nguyễn Văn Long, “Văn xuôi những năm 1975-1985 viết về cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ”- Văn nghệ quân đội, tháng 4-1985. Cùng quan điểm với nhận định trên, tác giả Phan Cự Đệ trong văn học Việt nam 1975 -1985, Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn, 1997 cho rằng cách khai thác những vấn đề chiến tranh trong mối tương quan quá khứ - hiện tại như thế làm cho truyện ngắn của ta sau 1975 có một bước phát triển mới, ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu bạn đọc ngày càng tốt hơn. Bởi nó không dừng lại ở trực giác mà đi sâu vào tâm lý, tiềm thức. Nhà văn Nguyên Ngọc còn khẳng định vai trò hàng đầu của truyện ngắn trong quá trình tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt của văn học giai đoạn này. Theo Nguyên Ngọc, truyện ngắn hiện nay đang vượt qua tiểu thuyết. Nó sớm đạt đến tính khách quan xã hội cao hơn, nó đi thẳng vào vấn đề thân phận con người, thế giới bên trong của con người, ý nghĩa nhân sinh, lẽ sống, con người ở đời sâu và sắc hơn “Văn xuôi sau 1975 - thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển”, Tạp chí văn học số 4 -1991. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 Đó cũng là nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh khi ghi nhận công lao của truyện ngắn trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới văn học. Truyện ngắn mở ra những mũi thăm dò, khai thác và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức thế sự nhanh chóng đạt đến một độ chín cả trong hình thức và nội dung mà tiểu thuyết còn chưa kịp đạt đến “Văn học Việt Nam hiện đại Nhận thức và thẩm định”, Nxb Khoa học xã hội, 2001. Thật ra, nhận định của hai tác giả về vai trò hàng đầu của truyện ngắn chỉ đúng trong tình hình văn học ở giai đoạn đầu những năm 80 khi văn học thực sự bước vào giai đoạn đổi mới. Điều này cũng được tác giả Phạm Mạnh Hùng thừa nhận trong cuốn sách “ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX” Nxb Đại học quốc gia Hà nội, H, 1999 Truyện ngắn vẫn xuất hiện đều đặn trong các báo, tạp chí văn nghệ trong Nam ngoài Bắc với một số lượng không nhỏ. Trong khoảng 5 năm đầu của thời kỳ hoà bình, truyện ngắn vẫn tiếp tục những đề tài và chủ đề, phong cách, bút pháp và các giọng điệu như đã thấy trong văn học trước đó. Nhưng từ những năm 80 bắt đầu xuất hiện nhiều truyện ngắn có dấu hiệu mới về tư tưởng, về nghệ thuật. Theo tác giả, cái mới trong những truyện ngắn này là việc đi vào những đề tài mới của cuộc sống sau chiến tranh, hay vẫn viết về chiến tranh nhưng với cách nhìn mới với những mối quan tâm, suy tư, trăn trở mới. Số phận con người trong cuộc sống được chú ý khai thác ở góc độ không chỉ ở cái phi thường mà còn ở cả cái bình thường. Xu thế mới này ở truyện ngắn giai đoạn 1975 - 1985 được tác giả Bùi Việt Thắng khẳng định và lý giải truyện ngắn sau 1975 tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực. Tính chất phức tạp của đời sống tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống kinh tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào. Nhìn chung các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 viết về sự thật. Chuyện đời thường vì thế nổi trội trong đa số truyện ngắn trong giai đoạn này, thậm chí đã hình thành một quan niệm văn học đời thường “Truyện ngắn - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học quốc gia Hà nội, 2000. Về hình thức truyện ngắn 1975 - 1985 cũng có rất nhiều ý kiến. Tuy nhiên, mỗi ý kiến bước đầu đưa ra sự đánh giá về một hay một vài phương diện nghệ thuật. Tác giả Bích Thu trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975” Tạp chí Văn học tháng 9 - 1996 cho rằng trong một thời gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm, đã tạo ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng. Xét trong hệ thống chung của các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật về con người và trong sáng tạo ngôn từ. Theo tác giả, truyện ngắn có xu hướng tự nới mở, đa dạng hơn trong cách thức diễn đạt… Có sự tác động, hoà trộn giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ người kể truyện. Lý giải về những thay đổi này, theo tác giả là do những biến động khác nhau trong đời sống xã hội, yêu cầu của thời đại, tính chất phức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách con người, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi những phương thức thể hiện nghệ thuật tương ứng với một thời kỳ đang chuyển biến. Chính những nhu cầu mới của con người khiến các thể loại của văn học có sự vận động và phát triển mà trong đó truyện ngắn có vai trò quan trọng, là loại hình nghệ thuật đáp ứng nhanh nhậy những chuyển biến của văn học từ thời chiến sang thời bình khi quy luật chiến tranh đã hết hiệu lực. Tác giả Nguyễn Văn Long “Văn học việt nam sau 1975. Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy”. Nxb Giáo dục. H. 2006 khi đi sâu vào nghệ thuật trần thuật khẳng định từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được cho là đúng đắn nhất vì đó là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết có thể đưa ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau. Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để có các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại. Bên cạnh đó sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một thời gian duy nhất là những nét mới trong nghệ thuật biểu hiện. Tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra một hiệu quả nghệ thuật mới để đáp ứng xu thế của thời đại. Nhà văn Ma Văn Kháng lại rất chú ý đến ngôn ngữ của truyện ngắn. Theo ông, đó là thứ ngôn ngữ vừa dung dị, vừa ma quái thêm, nó sử dụng đến sức mạnh tổng hợp của câu chữ “Truyện ngắn - nỗi run sợ”,Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tháng 7,1992. Nhìn một cách tổng thể, truyện ngắn giai đoạn 1975 -1985 có xu hướng vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, kể ít tả nhiều và sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời thế, truyện ngắn ở giai đoạn tiền đổi mới này như một khúc chảy mạnh mẽ, tạo nên dòng chảy liên tục của truyện ngắn dân tộc suốt cả thế kỷ XX Bùi Việt Thắng “Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2000. 2. 2. Những bài nghiên cứu về tác giả Các tác giả được chọn nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Ma Văn Kháng. Bởi trong những điều kiện cực kỳ khó khăn của đất nước, sáng tác của họ đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lý, báo trước khả năng tự đổi mới của nền văn học Việt Nam khi nó dám sòng phẳng với quá khứ bất chấp trở lực cản ngăn Lã Nguyễn, “Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật”, Tạp chí văn học số 2-1989. Tuy nhiên các tác giả Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng lại chủ yếu thành công ở thể loại tiểu thuyết. Với truyện ngắn, bên cạnh Nguyễn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 Minh Châu - người mở đường tinh anh và tài hoa - còn phải kể đến nhiều cây bút khác như Thái Bá Lợi, Nhật Tuấn, Xuân Thiều, Trung Trung Đỉnh, Bùi Hiển, Dương Thu Hương, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long, Lê Minh Khuê... Những bài viết, những ý kiến đánh giá về các tác giả này rất nhiều. Đặc biệt đáng chú ý là các ý kiến đông đảo của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu, các nhà văn như Phong Lê, Vân Thanh, Tôn Phương Lan, Huỳnh Như Phương, Tô Hoài, Hoàng Như Mai, Hà Minh Đức, Trần Đăng Xuyền, Lê Thành Nghị, Trần Đình Sử, Trần Cương, Ngọc Trai, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Thiếu Mai, Bích Thu, Vương Trí Nhàn... Hầu hết các ý kiến chỉ dừng lại ở mức độ phân tích đánh giá sự thành công của từng tác giả. ở giai đoạn đầu, có nhiều ý kiến đánh giá trái chiều nhau về cùng một tác giả, tiêu biểu là trường hợp của Nguyễn Minh Châu. Mặc dù hầu hết các ý kiến đều thừa nhận những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trên hành trình đổi mới xong trong số đó vẫn còn ý kiến tỏ ra nghi ngại. Nhận xét một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, nhà văn Bùi Hiển băn khoăn về việc tác giả đẩy sự tìm tòi khám phá về nội tâm, tính cách về hình ảnh cuộc sống và ý nghĩa cuộc đời theo một hướng có vẻ phức tạp hơn nhưng chưa chắc đã là sâu sắc hơn Nhiều tác giả, “Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu”, Văn nghệ 1985 số 27 và 28. Tác giả Hà Xuân Trường thì cho rằng ông chỉ thành công một nửa. Hay trường hợp của Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê trong những truyện ngắn viết về những khía cạnh xấu của người đời có ý kiến cho rằng đã làm xô lệch đi vẻ tự nhiên bình thường của con người, dẫu đó là những mẫu hình tiêu cực trong đời sống chúng ta Bích Thu, “Truyện ngắn Dương Thu Hương. Tạp chí Văn học . số 2. 1983 nhưng lại có ý kiến ủng hộ cách viết này dù cho ngòi bút của tác giả ở đây thật đã đi đến những chỗ cùng cực trong cách miêu tả thậm chí là có phần ác quá. Song ta đã chấp nhận phong cách này, thì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 để cho nó đi hết sự phát triển vốn có, không dừng lại nửa vời Vương Trí Nhàn trong “Văn học 1975-1985- Tác phẩm và dư luận”, Nxb hội nhà văn, 1997. Đúng là ở chặng đầu của hành trình đổi mới, các tác giả của văn xuôi nói chung và các cây bút viết truyện ngắn nói riêng mới chỉ khoan những mũi thăm dò đầu tiên trên những vùng đất mới. Có mũi thăm dò thành công nhưng cũng không ít thất bại. Song những nỗ lực của họ đã được ghi nhận. Vì chính họ đã góp phần chuẩn bị để tạo ra một vụ mùa lớn của thể loại ở giai đoạn sau. Những bài viết về tác phẩm Trong khoảng 10 năm từ 1975 đến 1985 số lượng truyện ngắn in trên các báo quả là không nhỏ. ở đây chúng tôi chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu một số tác phẩm được giải trên các tạp chí, các tập truyện có tác động không nhỏ đến diện mạo văn học giai đoạn này hoặc đánh dấu sự đổi mới trong sự nghiệp của các cây bút viết truyện ngắn. Có thể kể đến các tập truyện của các tác giả Nguyễn Minh Châu với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành 1983, Bến quê 1985; Xuân Thiều với Gió từ miền cát 1985; Dương Thu Hương với Những bông bần li 1981; Ma Văn Kháng với Ngày đẹp trời 1986; Lê Minh Khuê với Đoạn kết 1983, Một chiều xa thành phố 1986…và các tập truyện ngắn được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội Có một đêm như thế 1981, Thời gian 1985… Số lượng các bài viết này rất nhiều, đăng tải cả trên báo trung ương và báo địa phương dưới dạng thức điểm sách hoặc phê bình. Loại bài viết này phần lớn đều nêu lên những suy nghĩ, cảm nhận về nội dung hoặc nghệ thuật, về những phương diện đổi mới của từng truyện ngắn hay tập truyện ngắn cụ thể. Qua đó góp phần khẳng định xu thế đổi mới tất yếu của thể loại cũng như của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 Chung quy lại, qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu bao gồm các cuốn sách, các bài báo, các ý kiến trong các cuộc trao đổi, thảo luận, các cuộc hội thảo và một số luận văn, luận án đã có, chúng tôi thấy nhìn chung việc nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn sau 1975 đã lật xới lên được nhiều vấn đề. Đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc về một số vấn đề như tác giả, tác phẩm tiêu biểu cụ thể nhưng chủ yếu nghiêng hẳn về giai đoạn từ sau 1986, giai đoạn phát triển rực rỡ của truyện ngắn. Còn với truyện ngắn ở giai đoạn 1975- 1985, các ý kiến đánh giá chủ yếu ở dạng phác thảo sơ bộ, hoặc là những nhận định khái quát hay đi vào từng khía cạnh cụ thể của thể loại. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể sâu sắc những đặc điểm của truyện ngắn ở giai đoạn phôi thai của tiến trình đổi mới. Trên tinh thần tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước đã gợi ý cho chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đặt trọng tâm nghiên cứu vào việc khảo sát những dấu hiệu mới của truyện ngắn nói riêng đặt trong tiến trình phát triển của văn xuôi nói chung. 3. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn đi sâu tìm hiểu diện mạo và những đổi mới bước đầu của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong quan hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức biểu hiện. Từ đó thấy được sự vận động của truyện ngắn sau chiến tranh trong bức tranh chung của truyện ngắn hiện đại. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung khảo sát các truyện ngắn trong giai đoạn từ 19751985. Tuy vậy, truyện ngắn thực sự thay đổi là từ những năm 1980 trở đi. Hơn nữa số lượng truyện ngắn trong khoảng 10 năm này rất nhiều, luận văn sẽ không thể bao quát được hết. Để khoanh vùng phạm vi khảo sát, luận văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 thống kê, nghiên cứu những truyện ngắn của một số tác giả đã định hình và có thể xem là tiêu biểu cho xu hướng đổi mới; những truyện ngắn được giải thưởng trong các cuộc thi ở các báo trung ương, những tập truyện ngắn có tiếng vang hoặc gây dư luận trong quần chúng. Tuy nhiên đó cũng chỉ là sự khoanh vùng có tính chất tương đối để luận văn có thể tập trung hơn vào những vấn đề đổi mới của truyện ngắn trong một giai đoạn khá phong phú và phức tạp này. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau - Phương pháp thống kê, phân loại. - Phương pháp so sánh - Phương pháp phân tích, tổng hợp 5. Đóng góp của luận văn Luận văn cố gắng đi sâu làm nổi bật những dấu hiệu đổi mới của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1985 trong cái nhìn tổng thể và toàn diện. Hy vọng luận văn sẽ góp phần vào việc nhìn nhận quá trình vận động của thể loại truyện ngắn trong đời sống văn học và là bước tạo đà, gợi mở cho việc nghiên cứu truyện ngắn ở những giai đoạn sau. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm ba chương Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Chương II Những thay đổi về đề tài và cảm hứng trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975- 1985. Chương III Những đổi mới bước đầu về nghệ thuật truyện ngắn 19751985. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 Phần nội dung Chương I Bối cảnh lịch sử và diện mạo truyện ngắn Việt nam 1975 - 1985 1. Bối cảnh lịch sử xã hội Tình hình đất nước sau chiến tranh Với thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975, đất nước đã thu về một mối, Nam - Bắc một nhà. Khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về một nền tự do, độc lập phải trải qua ngót nửa thế kỷ chiến đấu kiên cường đã trở thành hiện thực. Chiến tranh khốc liệt đã qua đi, đất nước hào hứng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ngay sau niềm vui chiến thắng, cả dân tộc phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất. Đó là thời kỳ chúng ta lâm vào khủng hoảng sâu sắc về kinh tế, xã hội. Cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải có sự đổi mới. Đất nước hoà bình nhưng cuộc sống lại vận hành một cách khó nhọc, nặng nề. ở miền Bắc, những cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ đã tàn phá nặng nề, gây hậu quả lâu dài. Gần như toàn bộ các thành phố thị xã đều bị đánh phá. Thậm chí có thị trấn bị phá huỷ hoàn toàn. Tất cả các khu công nghiệp đều bị đánh phá, nhiều khu bị đánh tới mức huỷ diệt. Với miền Bắc, dù chiến tranh đã chấm dứt sau hiệp đinh Pari năm 1973 nhưng do bị tàn phá nặng nề nên nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế đến giữa năm 1976 mới căn bản hoàn thành. ở miền Nam, việc tiếp quản các vùng mới giải phóng được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc thành lập chính quyền cách mạng và các đoàn thể quần chúng các cấp nhanh chóng được thực hiện. Chính quyền cách mạng kêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 gọi những người từng làm việc trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền ra trình diện đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ ngoan cố chống đối. Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội cũng được tiến hành khẩn trương. Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí được sử dụng kịp thời vào công tác thông tin tuyên truyền cổ động. Những hoạt động trên ở hai miền Nam Bắc bước đầu đã ổn định tình hình khinh tế xã hội của đất nước ngay sau chiến tranh. Thống nhất về mặt nhà nước, khôi phục kinh tế, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ giành lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc đã hoàn thành. Nhưng về thể chế chính trị, chúng ta vẫn chưa có một nhà nước chung. Do đó yêu cầu hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước được đặt ra một cách bức thiết. Ngày 25- 4- 1976, cuộc tổng tuyển cử Quốc hội chung được tiến hành trong cả nước. Ngay sau đó Quốc hội khoá VI đã họp kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội. Quốc hội đã quyết định nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước trong thời kỳ mới. Từ đây, nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành thống nhất đất nước trên các lĩnh vữc chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội sẽ gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam lần thứ IV nêu rõ Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó đã được cụ thể hoá trong hai kế hoạch nhà nước 5 năm 1976 1980 và 1981 - 1985. Việc thực hiện những kế hoạch này đạt được những kết quả nhất định tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Đời sống của đại bộ phận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 nhân còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều lao động chưa có việc làm. Nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về vật chất và văn hoá chưa được đảm bảo. Mặt khác các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một sổ cán bộ chưa bị trừng trị nghiêm khắc, kịp thời. Thực trạng kinh tế xã hội đó đã làm lay động dữ dội mọi suy nghĩ, niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân. Đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó. Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong. Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành được tự do và độc lập [25]. Đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Sau 30 năm chiến tranh liên miên, khi đất nước vừa được độc lập tự do, chúng ta lại tiếp tục đối mặt với những cuộc xâm lược mới. Từ tháng 5- 1975 đến 1977, tập đoàn Pôn Pốt- Iêng Xari đổ bộ xâm lược nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Chúng dần dần mở rộng thành cuộc chiến tranh lớn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta. Tuy nhiên, hành động của chúng đã bị quân dân ta ngăn chặn và làm thất bại năm 1978. Không những thế, chiến thắng biên giới Tây Nam của ta đã tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng Campuchia giành thắng lợi. ở biên giới phía Bắc, Trung Quốc đã có những hành động làm tổn hại đến tình cảm của hai nước như cho quân khiêu khích quân sự dọc biên giới, rút chuyên gia… Nghiêm trọng hơn, tháng 2 năm 1975, Trung Quốc đã mở cuộc tấn công nước ta dọc theo biên giới từ Móng cái đến Lai Châu. Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, quân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã chiến đấu buộc Trung Quốc phải rút quân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 Chấm dứt hai cuộc xung đột biên giới phía Bắc và Tây Nam, nước ta đã bảo vệ toàn vẹn lành thổ và khôi phục, giữ vững tình đoàn kết hữu nghị hợp tác với các nước láng giềng. Có thể nói, bối cảnh lịch sử xã hội đất nước 10 năm sau chiến tranh có nhiều chuyển biến phức tạp. Điều này có tác động không nhỏ đến đời sống của văn học nước nhà. 2. Tình hình phát triển của văn xuôi Sự phát triển của một nền văn học nói chung, văn xuôi nói riêng bao gồm nhiều vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. ở đây chúng tôi chỉ đi vào lĩnh vực sáng tác của văn xuôi trong giai đoạn 1975 - 1985 để từ đó có được cái nhìn khách quan, tổng thể về diện mạo của truyện ngắn trong giai đoạn này. Với dân tộc Việt Nam, dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ cuộc sống với những quy luật không bình thường của chiến tranh sang cuộc sống bình thường, hàng ngày của nhân dân. Tuy nhiên, văn học lại không sang trang cùng lúc với lịch sử. Nền văn học về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật, những cảm hứng chủ đạo trong chiến tranh cho đến khoảng đầu những năm 1980. Điều này đúng với lý luận của Mác ý thức thường chậm hơn so với thực tại xã hội. Sự chạy theo quán tính này của văn học dẫn đến tình trạng mất độc giả. Sau chiến tranh, các nhà văn có điều kiện, có nhiều thời gian hơn để viết thì bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất thắm thiết máu thịt giữa văn học và công chúng, giữa sáng tác và người đọc lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi. Người đọc quay lưng lại với những sáng tác hiện tại. Đó cũng chính là khoảng thời gian mà Nguyên Ngọc gọi là khoảng chân không trong văn học. ở đó, âm không truyền đi được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 Nền văn học chững lại, không ít người viết lâm vào tình trạng hoang mang, bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác. Nhưng dần dần họ cũng tìm ra nguyên nhân cuộc sống thay đổi rất nhiều mà văn học vẫn giữ nguyên bộ quần áo cũ. Đời sống hoà bình nhưng hoá ra lại phức tạp hơn trong chiến tranh rất nhiều. Bởi trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người dồn lại trong một mối quan hệ duy nhất sống - chết. Tất cả những quan hệ đời thường, riêng tư bị đẩy lại phía sau, thậm chí bị triệt tiêu để hướng đến mục tiêu duy nhất chiến đấu để chiến thắng. Chính ngọn lửa chiến tranh đã thiêu cháy những sự nhỏ nhen, tính toán, bon chen của cuộc sống thường nhật. Nếu trong chiến tranh trăm người như một, đồng tâm nhất trí cho sự nghiệp chung thì hoà bình lại khác. Con người trở về với cuộc sống đời thường, đối mặt với những lo toan cá nhân, những mất mát trong chiến tranh, những khó khăn của cuộc sống kinh tế, mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa quyền lợi riêng và quyền lợi chung không hoàn toàn thống nhất như trước đây. Do đó tất cả đều cần một sự thay đổi mới để có một cách nhìn, một cách nghĩ mới với tinh thần trách nhiệm cao để đáp ứng được những điều kiện mà thực tế đặt ra. Trong những điều kiện lịch sử ấy, văn xuôi đầu năm 80 cũng đã trải qua những trăn trở cho một cuộc chuyển mình. Tuy nhiên sự vận động ấy còn do yêu cầu nội tại của chính nền văn học. Đó là sự phát triển của tư duy nghệ thuật ở một trình độ mới. Sự vận động của văn học giai đoạn này trước hết là ở khuynh hướng sáng tác, ở quan niệm về hiện thực và con người, ở phương thức tiếp cận và miêu tả thực tại. Đầu những năm 80 trong văn xuôi đã hình thành nhiều khuynh hướng khác nhau. Khuynh hướng sử thi, tiếp tục mạch chảy của nó trong sáng tác của nhiều nhà văn, đặc biệt ở đội ngũ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến. Nhiều cây bút văn xuôi hướng tới việc tạo dựng bức tranh toàn cảnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Thị Phương Thảo TRUYỆN NGĂN VIỆT NAM SAU NĂM 1975 VIẾT VỀ CHIẾN TRANH Chuyên ngành Lí luận văn học Mã số 62 22 01 20 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2016 1 Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội Người hướng dẫn khoa học Trần Khánh Thành Phản biện 1 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . Phản biện 2 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . Phản biện 3 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp ….. họp tại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . Vào hồi giờ ngày tháng năm 20... Có thể tìm hiểu luận án tại - Thư viện Quốc gia Việt Nam - Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 2 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN [1]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2013, “Diện mạo truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh của Nguyễn Minh Châu trong hai thời kỳ sáng tác”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật Quân đội, số 3 + 4, tr. 52 - 53 và 72. [2]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2014, “Truyện ngắn về chiến tranh qua các cuộc thi trên Văn nghệ Quân đội đầu thế kỉ XXI”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 810 và 81, tr. 162 – 167. [3]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Cảm hứng nhân bản trong truyện ngắn Việt Nam viết về chiến tranh sau 1975”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 839, tr. 91 - 96. [4]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Yếu tố giấc mơ và kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam đương đại viết về chiến tranh”, Tạp chí Lí luận Phê bình Văn học, nghệ thuật, số 44, tr. 60 – 64. [5]. Nguyễn Thị Phương Thảo 2016, “Nhân vật người lính trong truyện ngắn Việt Nam đương đại”, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 382, tr. 82 – 85. 3 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Hiện nay, những công trình nghiên cứu về đề tài truyện ngắn chiến tranh chưa nhiều. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn hoặc một mục nhỏ của công trình, các vấn đề được đặt ra rải rác,diện khảo sát thường hẹp về số lượng tác phẩm. Nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh từ sau 1975 dưới một số góc độ nội dung và nghệ thuật, chúng tôi hi vọng sẽ đem lại cái nhìn tương đối toàn diện về mảng truyện ngắn này với nhiều giá trị đặc sắc còn tiềm ẩn. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích Trên cơ sở khảo sát nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranhtrong sự so sánh đồng đại với truyện ngắn nói chung, với tiểu thuyết về chiến tranh…và sự so sánh lịch đại truyện ngắn chiến tranh giai đoạn trước 1975, luận án muốn tìm ra những đặc điểm, yếu tố kế thừa và cách tân của truyện ngắn khi viết về đề tài chiến tranh. Nhiệm vụ Qua việc tổng hợp tư liệu, luận án sẽ làm sáng rõ những vấn đề lí luận cơ bản về sự thay đổi tư duy nghệ thuật, một số yếu tố thi pháp đặc trưng thể loại truyện ngắn và phân tích cụ thể trong sáng tác về chiến tranh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng Một số phương diện quan trọng về nội dung, nghệ thuật, đặc điểm của truyện ngắn viết về chiến tranh nhìn từ thời bình. Sự thay đổi cách nhìn hiện thực, thế giới nhân vật đa chiều, những đặc sắc trong phương thức biểu hiện của truyện ngắn chiến tranh đương đại. 4 Phạm vi Luận án nghiên cứu những tác phẩm tiêu biểu trong các tuyển tập truyện ngắn hay về chiến tranh, truyện ngắn hay và đoạt giải Tạp chí Văn nghệ quân đội được tuyển chọn từ 1975 đến năm 2016. Bên cạnh đó là truyện ngắn về chiến tranh của các tác giả tiêu biểu nhưNguyễn Minh Châu,Bảo Ninh, Sương Nguyệt Minh, Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Trần Thanh Hà, Vũ Thị Hồng...Đồng thời, luận án cũng đề cập đến những truyện ngắn gần đây về chiến tranh trong phạm vi mà tác giả cập nhật được. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau phương pháp lịch sử- xã hội, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp loại hình, phương pháp nghiên cứu liên ngành 5. Đóng góp mới của luận án Qua việc tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 về chiến tranh, luận án bổ sung một cách nhìn truyện ngắn đương đại. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khảo sát tác phẩm, luận án đánh giá tác động của sự thay đổi bối cảnh hiện thực và tư tưởng, quan niệm nghệ thuật đến truyện ngắn về chiến tranh. Luận án chỉ ra những nét đặc trưng, kế thừa và cách tân trên một số phương diện nghệ thuật cơ bản của truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh cốt truyện, tình huống, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu. 6. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được tổ chức thành bốn chương như sau Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Hiện thực chiến tranh với những hướng tiếp cận mới 5 Chương 3. Các loại hình nhân vật chủ yếu Chương 4. Những phương thức nghệ thuật đặc sắc 6 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Đặc trưng thể loại truyện ngắn Khái niệm Một số đặc trưng của truyện ngắn hiện đại Phương thức chiếm lĩnh hiện thực của truyện ngắn không phải là hướng đến toàn bộ sự đầy đặn toàn vẹn như tiểu thuyết mà chỉ tập trung đặc tả một hiện tượng, một nét bản chất của con người, một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời sống. Truyện ngắn có đặc trưng riêng về dung lượng, kết cấu, cốt truyện, tình huống, chi tiết... Văn học chiến tranh- từ những góc nhìn Từ góc nhìn của một số tác giả nước ngoài và nhìn về phía văn học Mỹ Với một đề tài mang tính nhân loại, văn học về chiến tranh nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài giới thiệu ở Việt Nam. Qua đó có thể thấy nhiều vấn đề, quan điểm tương đồng và có ý nghĩa như bài học kinh nghiệm. Điểm nổi bật là khẳng định vị trí, sức hấp dẫn của đề tài chiến tranh và đặt vấn đề phải viết như thế nào để nói lên được tầm vóc của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, tâm thế của con người trong và sau chiến tranh. Một số bài viết khác đề cập đến những sáng tác của những tác giả Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho rằng từ thập kỷ 1970 đến nay cuộc chiến tranh trở thành đề tài lôi cuốn nhiều người cầm bút ở Mỹ trên nhiều thể loại. Từ những ý kiến phê bình trong nước Dựa trên nhiều khuynh hướng lí thuyết với các tiêu chuẩn giá trị, sự đánh giá khác nhau, một hướng nghiên cứu phổ biến là đặt truyện ngắn về đề tài chiến tranh trong văn xuôi chiến tranh. Có thể thấy 7 mảng văn học viết về đề tài chiến tranh được nghiên cứu phê bình trên nhiều bình diện, tập trung vào vị trí của đề tài, lực lượng viết, sự thay đổi cách tiếp cận đề tài cho phù hợp với cuộc sống đương đại và cái nhìn dân chủ sau chiến tranh. Tình hình nghiên cứu truyện ngắn sau năm 1975 viết về chiến tranh Những nghiên cứu về truyện ngắn sau 1975 nói chung Bên cạnh những bài viết khái quát, một số tác giả đi sâu vào vấn đề cụ thể như cảm hứng nữ quyền, truyện ngắn lịch sử, văn xuôi mạng…Những bài viết này thường xuất phát từ một vài phương diện để cắt nghĩa, giải mã những độc đáo trong sáng tác của một tác giả hay một tác phẩm, tập truyện nào số tác giả chọn cách tiếp cận truyện ngắn đương đại từ áp dụng các lí thuyết phê bình phương tây.. Các bài viết chủ yếu bàn về một số khía cạnh của truyện ngắn trong sự vận động của thể loại. Những luận án nghiên cứu truyện ngắn thường chọn một số vấn đề cơ bản để làm rõ, đó cũng là sự gợi mở cho các công trình nghiên cứu khác. Những đổi mới của truyện ngắn từ sauu 1975 về chiến tranh Một số nhà nghiên cứu chỉ ra những đổi mới về tư duy nghệ thuật biểu hiện qua đề tài, xây dựng nhân vật... Do khuôn khổ của bài viết nên các tác giả thường tập trung giải quyết một cách thấu đáo một số khía cạnh đổi mới của truyện ngắn chiến tranh. Đó cũng là vấn đề để ngỏ. Bên cạnh những bài phê bình đề cập trực tiếp đến truyện ngắn chiến tranh, cũng có một số nhà phê bình bàn về những tác phẩm, nhà văn cụ thể viết về đề tài chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Từ Nguyên Tĩnh, Xuân Thiều...Cách nhìn này đem đến sự quan sát nhìn cụ thể về những tác giả, tác phẩm xuất hiện trên văn đàn, không phải cái nhìn khái quát về truyện ngắn chiến tranh. Đó cũng là gợi ý cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này. Ngoài ra, bàn về văn xuôi nói 8 chung, truyện ngắn nói riêng về đề tài chiến tranh còn xuất hiện rải rác trong một số bài báo, tạp chí, luận văn khác nữa. Hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về truyện ngắn từ sau 1975 đến nay về chiến tranh . Tiểu kết Đã có nhiều công trình, bài viết trong hơn bốn mươi năm qua bàn về lí luận truyện ngắn, văn xuôi, và truyện ngắn chiến tranh trong xu thế đổi mới chung của nền văn học. Các bài viết chủ yếu bàn đến một vài khía cạnh hoặc điểm qua vài nét về đặc điểm của truyện ngắn sau 1975 về chiến là một vấn đề còn để ngỏ, gợi mở cho chúng tôi lựa chọn đề tài Truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 viết về chiến tranh. 9 CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VỚI NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật và cảm hứng sáng tác Sau 1975, cùng với sự đổi mới tư duy, quan niệm về hiện thực cũng thay đổi. Hiện thực chiến tranh và hậu quả của nó được nhìn nhận một cách toàn diện sâu sắc. Quan niệm nghệ thuật về con người ngày càng toàn diện, dần chuyển từ con người công dân, chính trị sang con người cá thể được khai thác ở nhiều bình hứng lãng mạn dần được thay thế bằng cảm hứng nhân bản, nhân văn. Chiều sâu bản thể và tâm hồn con người được khai thác với trí tuệ, tư tưởng, tình cảm, bản năng, ý thức và vô thức, tâm linh... Điểm nổi bật trong truyện ngắn chiến tranh thời gian này là khắc hoạ hình tượng người lính cả từ hai chiến tuyến. Từ khuynh hướng sử thi chuyển sang khuynh hướng thế sự, đời tư Giai đoạn kháng chiến 1945-1975 ở Việt Nam là thời điểm đặc biệt sản sinh và nuôi dưỡng nền văn học sử thi. Thành công của khuynh hướng sáng tác này là đã kết tinh thành những truyện ngắn làm nổi bật chân dung những anh hùng, người con ưu tú và cộng đồng với lý tưởng chung. Sau năm 1975, nhà văn không chỉ hướng đến những vấn đề lịch sử chính trị mà còn khai phá những mảng hiện thực mới đặt ra của cuộc sống thời bình. Văn học đương đại Việt Nam về chiến tranh thiên về khai phá những mặt còn khuất lấp, những vấn đề đời tư - thế sự, hướng đến cuộc sống đa trị và qua đó thể hiện cảm quan của nhà văn. Khám phá hiện thực, con người trong tính đa dạng, đa diện Biên độ hiện thực chiến tranh được mở rộng 10 Với tâm thế của người viết đương thời, biên độ hiện thực chiến tranh được mở rộng. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ tiếp tục được phản ánh. Cùng với đó, sự xuất hiện của nhiều truyện ngắn viết về cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, của quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Cămpuchia và biên giới phía Bắc những năm sau 1975 là sự bổ sung làm nới rộng biên độ hiện thực. Hiện thực chiến tranh được biểu hiện không chỉ là những thời điểm khốc liệt của các trận chiến- nơi bộc lộ cái cao cả và cái thấp hèn mà còn là hiện thực số phận con người cụ thể trong và sau chiến tranh. Khai thác đời sống bên trong của con người Trong truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh, nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực, con người thực với những điều hiện hữu, dễ nắm bắt, định danh mà còn khai thác thế giới vô thức giấc mơ, đan cài vào hiện thực là thế giới của những điều kỳ ảo và tâm linh để kiến tạo những ngả đường khác nhau đến với đề tài này. Chiến tranh không chỉ giản đơn là dòng hồi ức hay khoảnh khắc khó quên nào đó mà là những câu chuyện trong thế giới nhiều chiều, khó đoán biết. Nhiều truyện ngắn thấp thoáng thế giới ảo như Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh, Họ đã trở thành đàn ông Phạm Ngọc Tiến, Tiếng vạc sành Phạm Trung Khâu... Truyện ngắn chiến tranh khai thác con người với bản năng sống, trạng thái vô thức và tâm linh . Có thể thấy tinh thần đó trong nhiều truyện Giấc mơ kí ức Phan Đức Nam, Rửa tay gác kiếm Bảo Ninh, Bến đàn bà Nguyễn Mạnh Hùng, Những giấc mơ có thực Vũ Thị Hồng... Với đề tài chiến tranh, nhiều nhà văn hướng đến thế giới tâm linh để biểu đạt con người toàn diện hơn. Có thể nhận thấy điều đó trong nhiều truyện ngắn như Chuyến xe đêm Ma Văn Kháng, Tiếng chuông chiều Lê Hoài Lương, Bến trần gian Lưu Sơn Minh... Tuy nhiên, đó không phải là con đường duy nhất để khai thác đề tài chiến tranh. Việc miêu tả thế giới với những điều kỳ ảo, vô thức, tâm linh cũng cần đến một 11 nhãn quan tỉnh táo, chừng mực để tránh sa đà, dẫn tác phẩm tới “ly kỳ rùng rợn” hoặc cổ vũ mê tín dị đoan. Tiểu kết Từ sau giải phóng, truyện ngắn chiến tranh đã có sự bứt phá, thay đổi để tìm đến những hướng tiếp cận mới. Sự thay đổi hệ hình tư duy từ sử thi sang tiểu thuyết là bước ngoặt chi phối đời sống văn chương nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Từ đó thay đổi phương hướng sáng tạo, xây dựng nhân vật và tổ chức các thành tố của truyện. Chính vì vậy, trong hai thời kỳ lịch sử khác nhau, truyện ngắn đề tài chiến tranh mang diện mạo riêng. Điều này phản ánh tâm thức sáng tạo và tiếp nhận trong bối cảnh hiện thực cụ thể, phù hợp với lôgic vận động của đời sống văn học. Nhà văn đương đại đã chủ động tìm những ngả đường khác nhau mở rộng đường biên phản ánh hiện thực. Đề tài chiến tranh khi nhìn từ thời bình không còn giới hạn trong phạm vi hẹp cả về tư tưởng và trường phản ánh. Vì vậy, từ sau 1986, đặc biệt là những năm 90, truyện ngắn chiến tranh “nở rộ” với sự phong phú về số lượng, đa dạng về phong cách, mới mẻ và khách quan trong xử lý chất liệu chiến tranh. Hiện thực và con người dần hiện lên với bề rộng và chiều sâu, khác với tác phẩm giai đoạn trước. 12 CHƯƠNG 3 CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT CHỦ YẾU Loại hình học và loại hình nhân vật văn học Loại hình học Phương pháp tiếp cận vấn đề văn học theo loại hình giúp khu biệt một cách tương đối các hiện tượng trong mối quan hệ với hệ thống, tổng thể, từ đó đưa ra những nhận định theo nhóm có chung đặc điểm. Với vấn đề nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh, chúng tôi chọn hướng tiếp cận này như một cách thức để đưa ra những kiến giải về các kiểu nhân vật trong truyện ngắn đương đại về chiến tranh. Cách phân loại nhân vật theo loại hình Tuỳ theo tiêu chí phân loại khác nhau mà có thể tìm thấy những loại nhân vật có sự tương đồng về một mặt nào đó. Trong truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh, thế giới nhân vật rất phong phú đa dạng. Chúng tôi chọn cách phân loại nhân vật dựa trên tiêu chí vai trò của nhân vật trong tác phẩm kết hợp với tiêu chí giới tính, lứa tuổi, mức độ ảnh hưởng của chiến tranh đối với họ. Từ đó luận án tập trung khảo sát một số kiểu loại nhân vật chủ yếu được khắc hoạ đậm nét trong truyện ngắn chiến tranh đương đại. Các loại hình nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn sau 1975 viết về chiến tranh Thế giới nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh Trong truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh, viết về chiến tranh khi nó đã kết thúc, có nhiều nhân vật ở mọi lứa tuổi, giới tính là những người của cuộc sống hoà bình, thường ngày. Họ hầu như không tham gia chiến tranh mà xuất hiện trong truyện với tư cách người kể chuyện, những nhân vật phụ làm bối cảnh cho tuyến truyện chính. 13 Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chọn và đi sâu khảo sát hai kiểu nhân vật tiểu biểu là người lính và người phụ nữ. Họ thường là nhân vật chính, nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Nhân vật người lính Nhân vật đa diện Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, người lính được khắc hoạ đa chiều hơn với cá tính riêng, số phận đời tư, nhiều gương mặt khác nhau bên trong một con người. Đó là Trí Hai người trở lại trung đoàn – Thái Bá Lợi , vị tướng Ai biết mộ liệt sĩ ở đâu? - Văn Chinh, Lâm Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều... Không còn là sản phẩm của tinh thần lý tưởng hoá cao độ, họ hiện lên với cả sai lầm, thiên kiến cá nhân, khoảnh khắc hèn nhát, bản năng lấn át lí trí... Việc nhà văn “đặc tả” con người ở nhiều chiều kích một cách khách quan dẫn đến sự xuất hiện của nhân vật “lưỡng diện”, “đa trị” trong văn học nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Nhân vật tự ý thức - Ý thức về hoàn cảnh của mình Người lính được xây dựng trong tâm thế tự ý thức về cảnh ngộ của mình để sống và vượt lên nghịch cảnh sau chiến tranh. Dù gặp những mất mát, thiệt thòi nhưng hình tượng người lính vẫn đem đến cho người đọc sự khâm phục, cảm động khi họ biết vượt qua những bi kịch cá nhân để khẳng định phẩm chất- lí tưởng sống của mình. Đó là Lực Cỏ lau- Nguyễn Minh Châu, “anh” Đêm nguyệt thực- Trung Trung Đỉnh, Thao Miền cỏ hoang- Trần Thanh Hà... Kiểu nhân vật này chiếm số lượng lớn, là sản phẩm tất yếu của sự đổi mới tư duy nghệ thuật. - Ý thức về sai lầm của mình để tự thú, sám hối 14 Tự ý thức còn là trạng thái tinh thần để con người chiêm nghiệm, suy ngẫm lại hành động của mình. Phần lớn họ là người lính bên kia chiến tuyến chúng tôi trình bày ở phần sau. Bên cạnh đó, có cả nhân vật tự thú là người lính cách mạng như “người khách” Hồn cát - Nguyễn Hiê êp, Lực Cỏ lau và hoạ sĩ Bức tranh của Nguyễn Minh Châu. Xây dựng nhân vật này thể hiện sự nhạy cảm của nhà văn về trạng thái tâm lí đầy ám ảnh của con người sau chiến tranh, dù đó là ai, đứng ở vị trí nào. Nhân vật cô đơn Bên cạnh và đối lập với kiểu nhân vật vượt lên trên nghịch cảnh là những nhân vật không dung hoà được với cuộc sống sau chiến tranh. Mang theo những điều còn mất từ chiến tranh, nhiều người rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng giữa cộng đồngvà thời cuộc. Đó là tướng Thuấn Tướng về hưu- Nguyễn Huy Thiệp, Châu Bóng ma đói quê hương- Vũ Bão, Mộc Trại “Bảy chú lùn”- Bảo Ninh.. Môtip người lính cô đơn đã trở thành mẫu hình phổ biến trong văn học sau 1975, làm phong phú bức tranh chân dung người lính. Họ là sự phản chiếu đời sống sau chiến tranh. Nhân vật tha hoá Cùng với đổi mới tư duy và nhu cầu “nói thật”, hình tượng con người bị tha hóa đã xuất hiện nhiều trong văn học nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Bởi chiến tranh không chỉ là nơi khẳng định của những anh hùng mà còn là nơi phân biệt những kẻ hèn nhát, phản bội, nhỏ nhen. Sự biến chất, tha hoá này là vấn đề được khai thác trong cả tiểu thuyết và truyện ngắn như một vấn nạn cần phê phán và cảnh giác. Đó là Sức Anh Sức- Khuất Quang Thụy, Quang Cơn giông-Nguyễn Minh Châu, Lê Mãnh Nanh sấu- Sương Nguyệt Minh... 15 Người anh hùng, người lính dưới góc nhìn của nhà văn trở nên chân thực, sinh động hơn, bởi nó gần với đặc tính cố hữu của con người, không phải là một chiều thánh thiện. Nhân vật người lính bên kia chiến tuyến Cùng với sự thay đổi quan niệm về đề tài chiến tranh, về con người, trong văn học đã có cái nhìn khách quan hơn dành cho những người phía “đối phương”. Họ cũng chỉ là công cụ của kẻ xâm lược trong cuộc chiến, có thể bị hủy diệt bất cứ lúc nào vì toan tính của nhà cầm quyền, nhiều người bị xô đẩy vào cuộc chiến và rơi vào bi kịch. Đó là Phúc Thời tiết của ký ức- Bảo Ninh, John Smith Chú lùn thứ bảy- Lưu Sơn Minh, Huỳnh và Phấn Đất ấm- Đỗ Văn Nhâm...Nhân vật người lính “bên kia” còn được phác hoạ với vẻ đẹp nhân bản. Dù phải làm nhiệm vụ trong hàng ngũ địch nhưng họ cũng có cảm xúc, tình cảm, lòng trắc ẩn... như mọi con người bình thường. Đó là Benla Cây số 42- Dũng Hà, Xơn Ông Ba Rạch Đùng- Dương Đức Khánh... Hệ thống nhân vật này phản chiếu tư duy “nhận thức lại lịch sử” một cách khách quan, bao dung, nhân văn khi tiếp cận đề tài chiến tranh. Vì vậy, họ đã “điền vào” vào khoảng trống mà giai đoạn trước truyện ngắn còn để ngỏ. Nhân vật người phụ nữ Nhân vật phụ nữ thuỷ chung chờ đợi Môtip nhân vật phụ nữ thuỷ chung chờ đợi xuất hiện khá nhiều trong truyện ngắn chiến tranh từ sau 1975. Điểm chung của họ là chờ đợi thời gian quá dài, thậm chí hơn nửa đời người, họ vẫn luôn giữ mối chung tình với người đi xa dù có thể còn chưa một lời thề nguyền hẹn ước. Đó là Ân và Mật trong Hai người đàn bà xóm trại Nguyễn Quang Thiều, cô gái ở làng chiến khu Giếng trong – Lê Tuấn Hiển, Hai Mật Trên mái nhà người phụ nữ - Dạ Ngân.. Họ tạo thành hệ thống nhân vật “ vọng phu” nhiều dáng vẻ, điển hình 16 cho nhân cách, phẩm chất, cách ứng phó với cuộc sống sau chiến tranh của không ít phụ nữ Việt Nam. Nhân vật phụ nữ với bi kịch chiến tranh Truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh tiếp cận con người ở số phận cá nhân, người phụ nữ mang bi kịch mất con, trở thành người đàn bà goá bụa hoặc chịu thương tật di chứng chiến tranh,không được làm mẹ... Đó là người bà Nắng chiều- Thụy Anh, bà cụ Lăng Bến trần gian- Lưu Sơn Minh , mẹ của tôi Chuyện xưa kết đi, được chưa?- Bảo Ninh. Họ được tô đậm ở đức tính hi sinh, tình cảm sâu nặng, nghị lực kiên cường và cả sự yếu đuối vốn dĩ của giới nữ. Kiểu nhân vật này gắn với cảm hứng bi kịch, tinh thần dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật, truyện ngắn tiếp cận con người cả ở góc độ mất mát, bất hạnh trong cuộc sống do tác động của chiến tranh. Tuổi trẻ, nhan sắc, sức sống đã hao mòn bởi thời gian và chiến tranh cùng với nếp sống tình cảm, sự chi phối của dư luận cộng đồng khiến họ gặp nhiều trắc trở tình duyên và nhiều người thậm chí sống đơn độc phần đời còn lại. Con người mang theo khuyết thiếu, vết thương tâm hồn, tình cảm là một vấn đề lớn sau chiến tranh. Nhân vật phụ nữ tha hoá Trong cách tiếp cận hiện thực và con người đa diện, người phụ nữ còn được khắc hoạ khi bị chiến tranh kéo dài đẩy vào tình cảnh éo le, trở thành người bội bạc, chung chạ với nhiều người. Kiểu nhân vật này không có trong văn học giai đoạn trước. Tuy nhiên, cái nhìn trong truyện ngắn thời kỳ này với họ thường là bao dung bởi họ cũng là nạn nhân của chiến tranh, nhiều khi do hoàn cảnh, họ cũng có những khát khao rất đỗi thường tình của con người. Đó là nhân vật vợ Quang Rửa tay gác kiếm- Bảo Ninh, Diệu Nương Gió dại- Bảo Ninh, Diễm Thuý Đỉnh khói- Nguyễn Thị Kim Hòa, Thoải Thím Thoải- Hạnh Lê... 17 Soi chiếu qua thân phận người phụ nữ, truyện ngắn sau 1975 hướng đến tận những góc khuất thầm kín, khát vọng bản năng, những vấp ngã đời thường. Bên cạnh đó, họ vẫn toát lên đặc trưng nếp nghĩ, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Tiểu kết Nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh đương đại được thêm vào những chân dung, kiểu loại gắn với cái nhìn từ hoà bình. Nhân vật người lính thời kỳ này đã được tập trung thể hiện với tinh thần khách quan, nhân bản. Viết về sự đa dạng trong tính cách, những chấn thương, bi kịch là kết quả của lối tư duy nghệ thuật mới. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận kiểu nhân vật người lính anh hùng của giai đoạn trước mà là sự bổ sung, làm đầy đủ hơn loại nhân vật này. Bên cạnh đó, nhân vật phụ nữ là đối tượng được đặc biệt quan tâm trong văn học nói chung và truyện ngắn chiến tranh nói riêng. Nhìn từ hoà bình, chân dung họ hiện lên với những tổn thương đầy khắc khoải và cả những nhược điểm mang tính bảo thủ của người phụ nữ trong định kiến xã hội Việt Nam. Họ đáng được trân trọng, cảm thông bởi chiến tranh đi qua để lại những người phụ nữ với bi kịch lớn nhất là không có một gia đình trọn vẹn. 18 CHƯƠNG 4 NHỮNG PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC Tổ chức cốt truyện Khái niệm cốt truyện và vai trò của cốt truyện trong truyện ngắn Một số loại hình cốt truyện tiêu biểu Cốt truyện sự kiện - hành động Loại cốt truyện này chú trọng yếu tố “có chuyện”,biến cố, sự kiện, hành động của nhân vật phát triển tạo nên sự vận động của cốt truyện. Tuy nhiên, trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, dù truyện triển khai trên sự kiện, hành động là chủ yếu nhưng vẫn đan xen trong đó những chi tiết, tình tiết mới lạ, bất ngờ, biến cố liên tục tạo độ căng cho truyện, trình tự các sự kiện có thể bị đảo lộn chứ không nhất thiết trình bày theo trật tự trước sau như trong truyện truyền thống. Đồng thời, nhà văn sử dụng các yếu tố kỳ ảo, giấc mơ, tâm linh đan xen, kiểu truyện “giả thể loại” để biểu hiện cảm nhận của con người hiện đại về đời sống trong và sau chiến tranh. Nhiều truyện có kiểu cốt truyện này như Kẻ sát nhân lương thiệnLại Văn Long Còn, Mười ba bến nước Sương Nguyệt Minh, Hai mươi năm sau Hồ Phương. Cốt truyện tâm lý Sau năm 1975, kiểu cốt truyện này chiếm tỉ lệ lớn trong truyện ngắn, hướng đến thế giới hiện thực khó định hình và nắm bắt trong tâm hồn con người. Sự kiện được nhắc đến trong truyện không nhiều nhưng từ những chiếc “mắc treo” ấy, tác giả đã làm một hành trình xâm nhập, giãi bày những trạng huống cảm xúc diễn ra trong tâm hồn nhân vật trước hoàn cảnh, khám phá con người ở chiều sâu vô thức 19 và tâm linh trong và sau chiến tranh. Đây là kiểu cốt truyện của Bức chân dung của người đàn bà lạ Chu Lai, Dòng sông trinh nữ Sương Nguyệt Minh, Mỗi tháng có một rằm Lê Hoài Lương... Tiếp thu kiểu cốt truyện trữ tình, nhà văn đương đại vận dụng một cách nhuần nhuyễn và tinh tế trong cái nhìn hướng về số phận cá nhân con người sau chiến tranh. Cốt truyện dòng ý thức là một bước phát triển của cốt truyện tâm lý. Trong truyện ngắn chiến tranh đương đại, loại cốt truyện này chưa đạt đến mức “điển hình” nhưng đã xuất hiện một số tác giả sử dụng như một phương tiện tìm kiếm những nhận thức mới mẻ, sâu sắc về thế giới bên trong của con người. Có thể gặp kiểu cốt truyện này trong Sám hối Phùng Văn Khai, Bến đàn bà Nguyễn Mạnh Hùng, Hoài vọng Văn Xương... Xu hướng tự do hoá cốt truyện Trong văn xuôi đương đại, người ta có thể nói đến sự “lỏng lẻo”, “thu nhỏ” cốt truyện, nhà văn không tuân theo nguyên tắc truyền thống để xây dựng cốt truyện. Một loại cốt truyện nữa tuy xuất hiện không nhiều nhưng cũng là thể nghiệm mới mẻ của nhà văn khi viết về chiến tranh, đó là cốt truyện mang yếu tố hậu hiện đại Chú lùn thứ bảy, Bến trần gian, Âm thanh của kí ức. Quan niệm mới trong văn học đương đại hướng đến một “hiện thực không hoàn kết”, không thể biết trước. Vì vậy, truyện ngắn chiến tranh có xu hướng chuyển đổi từ cách kết thúc đóng sang kết thúc mở và không có hậu, tạo ra sự bất ngờ, để lại nhiều dư âm, gợi mở. Việc tổ chức truyện ngắn với cốt truyện, đoạn kết một cách sáng tạo, độc đáo đem lại nhiều cách cảm nhận về đề tài chiến tranh, phù hợp với cảm thức của đời sống hiện đại. Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện Vai trò của tình huống trong truyện ngắn 20
Ngày đăng 04/04/2014, 0857 Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 nhìn từ góc độ thi pháp thể loại 1 Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ truyện ngắn phát triển mạnh mẽ trong điều kiện chiến tranh. Tuy nhiên, hiện nay những công trình nghiên cứu về truyện ngắn cha nhiều, nhất là trên phơng diện thi pháp thể loại. Chọn nghiên cứu truyện ngắn từ góc độ thi pháp thể loại, chúng tôi không cho đây là một cách tiếp cận toàn diện nhng phần nào mở ra một hớng nghiên cứu mới cho thể loại truyện ngắn thời kỳ này. 2. Lịch sử vấn đề. Tình hình nghiên cứu lý thuyết truyện ngắn. Đã có rất nhiều tài liệu bàn về khái niệm và đặc trng của truyện ngắn. Tiêu biểu có thể kể đến ý kiến của Gulaiép, Pospêlốp, Hà Minh Đức, Nguyễn Công Hoan, Vơng Trí Nhàn, Bùi Việt Thắng Những ý kiến về truyện ngắn ở các tài liệu nêu trên rất phong phú đa dạng, song về cơ bản có hai loại Nêu ra những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn, từ những vấn đề mang tính lý luận nh vai trò, khả năng, phạm vi khám phá, cách thức chiếm lĩnh đời sống đến những vấn đề cụ thể kết cấu, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, chi tiết. Trình bày kinh nghiệm viết truyện ngắn. Loại ý kiến này thờng là của các tác giả có nhiều thành công với truyện ngắn. Để minh họa cho những nhận xét khái quát về thể loại, họ trình bày lại quá trình viết các tác phẩm và từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học sáng tác. Loại ý kiến này không trực tiếp phục vụ cho việc giải quyết đề tài, nhng ít nhiều cũng là những gợi ý cần thiết cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu các sáng tác cụ thể, phục vụ cho việc khái quát lý thuyết Tình hình nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975. Những công trình nghiên cứu về những vấn đề lý thuyết của truyện ngắn từ sau Cách mạng tháng Tám đến 1975. Những bài đánh giá chung về truyện ngắn cha nhiều. Điểm chung của các bài viết này là đều khẳng định truyện ngắn là một thể loại năng động, có khả năng thích ứng với cuộc sống thời chiến. Tuy nhiên, các dạng bài này, trong phạm vi của một bài viết, mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh hoặc những nhận xét có tính chất khái lợc. 2 Trong số những công trình nghiên cứu về truyện ngắn giai đoạn này, phải kể đến luận án Tiến sỹ của Phùng Ngọc Kiếm Con ngời trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Luận án đi sâu nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con ngời trong truyện ngắn giai đoạn này bộ phận văn học cách mạng. Trong đó tác giả đề cập tới một số các vấn đề thi pháp truyện ngắn nh cốt truyện, ngôn ngữ, nhân vậtnhằm lý giải sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về con ngời đối với các phơng diện nghệ thuật. Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Khắc Sính Phong cách thời đại trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 đã tập trung khảo sát sự tác động, ảnh hởng của thời đại đối với truyện ngắn trên các phơng diện nh giá trị thẩm mỹ, chất trữ tình, chất hiện thực và quá trình vận động của các yếu tố này trong truyện ngắn 1945 - 1975. Các luận án trên ít nhiều đều có sự gặp gỡ với luận án của chúng tôi ở đối tợng nghiên cứu, xét trên phạm vi rộng là tác giả và tác phẩm. Tuy nhiên, cha có công trình nào nghiên cứu theo hớng thi pháp thể loại, đi sâu khám phá truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này trên cơ sở đặc trng thể loại. Những bài nghiên cứu về tác giả. Loại bài nghiên cứu về một tác giả xuất hiện tơng đối nhiều, tập trung ở một số tác giả sáng tác đều đặn và bớc đầu định hình những nét riêng nh Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành, Vũ Thị Thờng, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Giang Nam, Phan Tứ một số luận văn về Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc Ngoài ra còn rất nhiều bài viết về các tác giả khác nh Giang Nam, Phan Tứ, Nguyễn Thi, Nguyễn KhảiĐiểm chung của loạt bài này là các tác giả thờng cố gắng phát hiện ra những nét riêng của từng tác giả, tuy không nhiều. Loạt bài này đã giúp chúng tôi khá nhiều trong việc nghiên cứu các khuynh hớng của truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1975. Những bài viết về từng tác phẩm. Loại bài này rất nhiều ở các các báo, tạp chí. Loạt bài này có tác dụng giúp chúng tôi tìm hiểu sự trởng thành của một tác giả trong sự phát triển của một thời kỳ nhất định. 3. Đối tợng và giới hạn nghiên cứu. Đối tợng khảo sát. Luận án chọn mốc thời gian từ 1945 đến 1975, vì đây là giai đoạn đất nớc có chiến tranh, văn học chịu sự chi phối của qui luật chiến tranh. 3 Tuy nhiên, truyện ngắn cha xuất hiện nhiều trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Vì vậy, luận án khảo sát chủ yếu là truyện ngắn từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp đến 1975 của những tác giả tiêu biểu, đã định hình về mặt phong cách. Giới hạn phạm vi nghiên cứu. Do đối tợng khảo sát tơng đối rộng, cộng thêm sự khó khăn khi tìm tài liệu, nhất là những truyện ngắn đợc ra đời ở các đô thị miền Nam thời bị tạm chiếm nên chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở bộ phận văn học Cách mạng. Luận án chỉ giới hạn ở những vấn đề mang tính đặc trng và đáng quan tâm hơn cả của truyện ngắn 1945 - 1975 nh cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ. Đó là những cấp độ quan trọng của cấu trúc truyện ngắn, đồng thời là nơi bộc lộ rõ những đặc trng của truyện ngắn phát triển trong điều kiện chiến tranh. 4. Phơng pháp nghiên cứu. Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề tài "Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Nhìn từ góc độ thi pháp thể loại", luận án sử dụng các phơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau phơng pháp loại hình, phơng pháp tiếp cận thi pháp học, phơng pháp so sánh và phơng pháp xã hội học. 5. Những đóng góp của luận án Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những ngời đi trớc, luận án cố gắng phác họa một mô hình chung nhất về thi pháp truyện ngắn 1945 - 1975. Qua đó hiểu đợc sự vận động và tiếp nối của thể loại truyện ngắn qua các giai đoạn. Góp phần nhìn lại một số vấn đề về nội dung và nghệ thuật của thể tài truyện ngắn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại thời kỳ 1945 - 1975 nhằm khẳng định những đóng góp của thể loại này đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. 6 Giới thuyết một số khái niệm 7. Cấu trúc của luận án. Luận án có 198 trang. Ngoài phần mở đầu 12 trang, phần kết luận 6 trang, phần tài liệu thamkhảo gồm 222 tài liệu 16 trang và phần phụ lục danh mục các tác phẩm đã khảo sát gồm 125 tác phẩm 6 trang., luận án đợc chia làm ba chơng 158 trang Chơng 1 Diện mạo chung của truyện ngắn 1945 - 1975; Chơng 2 Hai kiểu cấu trúc thể loại; Chơng 3 Kết cấu, các loại hình nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ 4 Chơng I Diện mạo chung của truyện ngắn 1945 - 1975 Đây là chơng chúng tôi trình bày hai vấn đề cơ bản của truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 I. Khả năng bao quát hiện thực rộng lớn. 1. Phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp. Những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám, các nhà văn lớp trớc nh Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển cha thích nghi đợc với hoàn cảnh mới nên cha có nhiều sáng tác theo kịp những biến chuyển to lớn của thời đại. Chỉ có một số truyện ngắn của Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tởng nh Mò sâm banh, Địa ngục và Lò lửa, Vỡ tỉnh, Một phút yếu đuổi ít nhiều ghi lại đợc hình ảnh xã hội Việt Nam trong đêm trớc của cuộc cách mạng và khí thế sục sôi của dân tộc trong cuộc trở dạ vĩ đại của lịch sử. Bớc vào cuộc kháng chiến, truyện kí kháng chiến, tuy không nhiều, đã phản ánh khá trung thực cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện trên các chiến trờng khác nhau, đồng thời nêu lên sức mạnh vô địch của cuộc chiến tranh nhân dân dới sự lãnh đạo của Đảng. Ngời nông dân kháng chiến và anh bộ đội cụ Hồ trở thành nhân vật trung tâm của nhiều truyện ngắn Một lần tới Thủ đô của Trần Đăng, Làng, Vợ nhặt của Kim Lân, Đôi mắt của Nam Cao, Th nhà của Hồ Phơng, Voi đi của Siêu Hải, Con đờng sống của Minh Lộc, Tây đầu đỏ của Sơn Nam, Bên rừng Cù lao Dung của Phạm Anh Tài, Cây đớc Cà Mau của Đoàn Giỏi. 2. Phản ánh cuộc đấu tranh thống nhất đất n ớc. Sau 1954, hòa bình đợc lập lại trên miền Bắc. ở miền Nam, vẫn đang trong tình trạng nớc sôi lửa bỏng. Hoàn cảnh ấy đã gây nên sự nhức nhối trong tình cảm của nhân dân hai miền Nam Bắc và sâu hơn là niềm mong mỏi thiết tha thống nhất nớc nhà. Tâm t, nguyện vọng ấy đã đợc nhiều nhà văn quan tâm và tạo thành cảm hứng chủ đạo cho mạch truyện viết về miền Nam, về cuộc đấu tranh thống nhất nớc nhà Cây đàn miền Bắc - Phạm Anh Tài, Lá cờ mình - Nguyễn Văn Tâm, Em bé - Hoàng Minh Châu, Hai em bé miền Nam - Hoài Vũ, Trung thành - Nguyễn Thành Long Trong hoàn cảnh đó, những sáng tác mang màu sắc bi quan, buồn nản đã xuất hiện Về nhà- Nguyễn Thành Long; Im lặng - Nguyễn Ngọc Tấn, Vết thơng - Hải Hồ, Đứa con - Nguyên Ngọc, Sau hai chiến dịch - Minh 5 Giang, Theo thời gian, thứ tâm trạng buồn yếu, bi quan đó ngày càng bớt đi, thay vào đó là những sáng tác lành mạnh, trong trẻo hớng về miêu tả hành động, việc làm của những con ngời miền Nam trên đất Bắc. Đáng chú ý là hai tập truyện Trăng sáng và Đôi bạn của Nguyễn Ngọc Tấn. 3. Phản ánh công cuộc xây dựng chủ nghĩa x hội. Về cuộc cách mạng dân chủ. Song song với đề tài đấu tranh thống nhất nớc nhà, truyện ngắn miền Bắc cũng cố gắng bám sát dòng chảy của lịch sử với những sự kiện trung tâm của thời đại nh Cải cách ruộng đất, xây dựng chủ nghĩa xã hội Tiếng hát trên đỉnh Hoa Sơn - Mộng Lục, Lớp học vùng cao - Trịnh Ngọc Khu, Ngời chú dợng - Kim Lân, Lấy nớc ao trời - Huy Phơng, Thôn Kim đoàn kết làm chiêm - Đăng Tiến. Nhiều truyện đi sâu khai thác cuộc đời của những nhân vật vốn là nạn nhân của quan hệ sản xuất cũ nay nhờ cách mạng mà đã tìm thấy niềm vui, hạnh phúc, giá trị cuộc sống của mình Cây mít - Nguyễn Công Hoan, Ngời vợ lẽ - Đỗ Quang Tiến, Ông lão chăn bò trên núi Thắm - Xuân Thu, Đờng cày trên đám ruộng - Đặng Hữu Phát, Ma đêm - Vũ Giang, Nên vợ nên chồng - Kim Lân, Hai cha con - Nguyễn Địch Dũng. Nhìn chung, truyện ngắn thời kỳ này đã phản ánh đợc hiện thực bề bộn, phức tạp hơn so với kháng chiến chống Pháp. Nhng nhân vật còn đơn giản, cha sinh động, nhiều khi thiếu chân thực. Do đó những tác phẩm thành công về cuộc Cách mạng dân chủ cha có nhiều và cũng cha đủ sức v ợt qua thử thách của thời gian. Về cuộc cách mạng x hội chủ nghĩa Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng làm thay đổi nhiều mặt toàn bộ xã hội. Tất cả những thay đổi đó hiện lên khá rõ trên nhiều truyện ngắn tiêu biểu trong các tập Hai vợ, Trai làng Quyền Nguyễn Địch Dũng, Mùa lạc Nguyễn Khải, ánh sáng bên hàng xóm Chu Văn, Quê hơng Vũ Tú Nam, Gánh vác Vũ Thị Thờng, Đồng tháng năm, Vụ mùa cha gặt Nguyễn Kiên Càng về sau, truyện ngắn càng phản ánh hiện thực phong phú và có chiều sâu hơn. Một số truyện ngắn của Vũ Thị Thờng, Nguyễn Kiên, Nguyễn Địch Dũng Câu chuyện xảy ra không tránh khỏi, Cái lạt, Anh Keng, Nhà chị Nhỡ đi sâu vào nghiên cứu, tái hiện cuộc đấu tranh trong nội bộ nhân dân, nhằm làm cho đội ngũ trong sạnh, vững mạnh hơn. Điều đó chứng tỏ, các tác giả đã hiểu rõ hơn về ngời nông dân tập thể và không chỉ dừng lại ở mức độ minh họa cho chủ trơng chính sách. Nhìn chung, mỗi ngời viết trong khả năng của mình 6 đều cố gắng dựng lại những đổi mới cơ bản ở nông thôn, nhằm khẳng định bớc tiến của cách mạng, của nông thôn trên con đờng xây dựng chủ nghĩa xã hội. 4. Phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc Sau những thất bại nặng nề ở miền Nam, ngày 5/ 8/ 1964 Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Cả nớc bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc. Trong tình hình ấy, nhiều nhà văn lên đờng trở về quê hơng nh Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành Và họ đã có những sáng tác kịp thời về cuộc chiến đấu của đồng bào miền Nam Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, Con chị Lộc - Anh Đức, Quán rợu ngời câm - Nguyễn Quang Sáng, Ngời tị nạn - Vĩnh Hòa, Về làng của Phan Tứ, Vở kịch cô giáo của Giang Nam, Chiếc guốc xinh xinh của Thủy Thủ. Đặc biệt, cuộc đối đầu trực tiếp của nhân dân miền Nam với kẻ thù để giữ ruộng đất đợc nhiều tác giả quan tâm Giữa vòng vây - Trúc Hà, Mùa gió, Đất - Anh Đức, Lửa đêm - Phan Tứ, Chuyện bên bờ sông Vàm cỏ - Lê Văn Thảo, Về làng - Phan Tứ. Có thể nói, truyện ngắn miền Nam đã phản ánh kịp thời, chân thực về hiện thực cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Nó đã tái hiện lại đợc nhiều kiểu ngời tích cực, nhiều hiện thực đau thơng nhng rất hào hùng của miền Nam trong chiến tranh. ở miền Bắc, đề tài đấu tranh chống Mỹ đợc thể hiện với sắc thái khác vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội Những vùng trời khác nhau - Nguyễn Minh Châu, Quán bên đờng - Nguyễn Thị Ngọc Tú, Ngời cầm súng - Lê Lựu, Mùi thơm dây cháy chậm - Cao Tiến Lê. Chân dung con ngời Việt Nam trong truyện ngắn chống Mỹ đã dần đợc triển khai qua nhiều bối cảnh, dáng vẻ. Nhng cũng phải nhận thấy rằng, ở buổi đầu, sự đúc kết cuộc sống vào các chân dung, các điển hình cha phải đã tốt. Không ít nhân vật còn rất mờ nhạt và thờng là hao hao giống nhau. II. Một giai đoạn chủ yếu đợc sáng tác theo cảm hứng lãng mạn và khuynh hớng sử thi. 1. Cảm hứng lng mạn. Con ngời lạc quan. Trong truyện ngắn, cảm hứng lãng mạn đợc thể hiện trớc hết ở việc xây dựng nhân vật. Để thể hiện bản lĩnh, niềm lạc quan của con ngời Việt Nam trong chiến đấu, truyện thờng xoay quanh tình huống cơ bản một bên là ta ngời cán bộ, chiến sỹ, nhân dân ở trong tình thế bất lợi và bên kia là kẻ địch hung bạo, tàn ác, đợc trang bị vũ khí hiện đại. Nhng bằng 7 ý chí, niềm tin, nghị lực bao giờ ta cũng là ngời chiến thắng Rừng xà nu, Đất, Giấc mơ ông lão vờn chim, Chuyện bên bờ sông Vàm cỏ, Gieo mầm, Mầm sống, Niềm vui thầm lặng, Chân trời tím, Những đứa con trong gia đình, Lửa đêm Trong các truyện về đề tài sản xuất, xây dựng cuộc sống mới thiên nhiên khắc nghiệt và cả các lề thói, định kiến luôn là những cản trở đối với con ngời. Trong hoàn cảnh ấy, con ngời buộc phải có nghị lực, quyết tâm để có thể vợt qua Ché Mèn đợc đi họp - Nông Minh Châu, Ngời vợ - Nguyễn Địch Dũng, Xa Phủ - Ma Văn Kháng, Hạnh phúc - Vũ Thị Thờng, Màu tím hoa mua - Nguyễn Thị Nh Trang, Đêm trong làng - Nguyễn Thị Ngọc Tú Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đều nhằm ca ngợi tinh thần lạc quan của con ngời trớc các thử thách của hoàn cảnh. Xu hớng lý tởng hóa hoàn cảnh sống của nhân vật Giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ số phận cộng đồng đợc đặt lên hàng đầu. Ngời với ngời sống với nhau trong tình chan hòa, thân ái. Do đó, con ngời tiến bộ hay lạc hậu hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân họ, còn môi trờng luôn luôn tốt. Nhiều truyện đã đề cập đến sự đổi đời của những con ngời từng là nạn nhân trong xã hội cũ nay tìm lại đợc niềm vui, hạnh phúc trong cuộc sống mới Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ng ời vợ lẽ - Đỗ Quang Tiến, Bộ quần áo mới - Ngô Ngọc Bội, Hoa đào năm ngoái - Chu Văn, Ma đêm - Vũ Giang, Gặp bạn, Trai làng Quyền - Nguyễn Địch Dũng, Hai chị em - Vũ Thị Thờng, Mùa lạc, Đứa con nuôi - Nguyễn Khải, Lẽ mọn - Nguyễn Thị Cẩm Thạch, Tiếng sóng khuya - Nguyễn Kiên. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nớc ngày càng sôi nổi, thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Nhiều truyện ngắn đã xây dựng những kiểu nhân vật tự nhận thức để tiến kịp phong trào nh nhân vật cô giáo Vở kịch cô giáo - Giang Nam, ông Sần Về làng - Phan Tứ, Ngời đàn bà Tháp Mời trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Quang Sáng. Điều này chứng tỏ sức cảm hóa kỳ diệu của cách mạng, của hoàn cảnh đối với con ngời. 2. Khuynh hớng sử thi Đề tài Theo nhà phê bình Lại Nguyên Ân thì "Tính chất sử thi của nền văn học mới Việt Nam thể hiện trớc hết ở chỗ nó lấy đối tợng miêu tả chủ yếu là cuộc đấu tranh của dân tộc nhằm thoát khỏi mọi ách ngoại xâm nó ca ngợi sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của toàn dân trong hiện tại và 8 quá khứ, ngợi ca xả thân vì dân tộc, đất nớc của những ngời con u tú của dân tộc 10, 120. Truyện ngắn cũng không phải là ngoại lệ. Nhân vật Nhân vật là phơng diện thể hiện rõ sự chi phối của khuynh hớng sử thi vào truyện ngắn. Nhìn chung, truyện ngắn thời kỳ này tập trung vào hai kiểu nhân vật những con ngời mang t tởng, khát vọng của thời đại và những con ngời kết tinh bản lĩnh, khí phách của dân tộc, thời đại ở loại thứ nhất, đời sống riêng của cá nhân đợc thể hiện nh đời sống chung của dân tộc. Trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng hành xử với t cách một công dân, một chiến sỹ nh Thân Cái hom giỏ, hai chị em Chiến và Việt Những đứa con trong gia đình, ông T vờn chim Giấc mơ ông lão vờn chim, anh Khang, chị Tiềm Mùa cá bột, Tâm Nếm nớc Tất cả họ đều tự nhận thức đợc về trách nhiệm của mình đối với đất nớc, luôn coi lý tởng cách mạng là nguồn vui, lẽ sống. Kiểu ngời thứ hai đợc xây dựng để phản ánh bớc đờng đi lên của lịch sử, dân tộc ông Hai - Làng, Mỵ và A Phủ - Vợ chồng A Phủ, Độ - Đôi mắt, Lợng - Th nhà , Miên - Gặp gỡ, ông Tám Xẻo Đớc - Đất, chị út - Mẹ vắng nhà; cụ Mết - Rừng xà nu Chơng II hai kiểu cấu trúc thể loại Truyện ngắn trữ tình. Phơng thức tiếp cận và chiếm lĩnh hiện thực. Với một lối tiếp cận và cảm nhận u ái, nâng niu, các cây bút thuộc khuynh hớng này không đi vào khai thác những xung đột xã hội gay gắt mà nghiêng về khai thác vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nớc và nhất là vẻ đẹp tâm hồn con ngời. Vì vậy, nó thờng nắm bắt đợc cái hồn, cái thần thái của hiện thực hơn là tái hiện hiện thực dới hình thức trực tiếp. Cốt truyện với chức năng bộc lộ trạng thái, tâm tởng Truyện ngắn trữ tình là truyện về thế giới đời sống đã đợc khúc xạ qua lăng kính tâm hồn của tác giả, là truyện về niềm vui, nỗi buồn của con ngời trớc cuộc sống. Nói cách khác, những chi tiết, sự kiện, biến cố chỉ là cái nền, cái cớ để nhân vật phô diễn thế giới nội tâm phong phú của mình. Thung lũng cò, Đờng qua nhà, Tiếng ma . 9 Để những truyện "không có chuyện" có thể "đứng" đợc, không rơi vào tình trạng chết yểu, vô vị nhà văn phải tạo ra một "không khí" quán xuyến toàn bộ truyện, một "môi trờng sống" cho nhân vật bằng cách đa vào trong truyện những chi tiết chân thực, chính xác, đáp ứng yêu cầu "phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống". Do quan niệm "cốt truyện không thành vấn đề lắm", các cây bút trữ tình ít chú ý tới những sự kiện, biến cố khách quan mà chủ yếu quan tâm tới những biến cố bên trong, những suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật. Nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình là kiểu nhân vật có thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động trớc những biến chuyển của đời sống. Đỗ Chu, Nguyễn Thị Nh Trang, Nguyễn Thành Long, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu có sở trờng xây dựng loại nhân vật này. Hành động không còn là cốt lõi của nhân vật. Nhân vật không đợc miêu tả qua ngoại hình, hành động mà chủ yếu xuất hiện qua tâm trạng và miêu tả tâm trạng cũng không nhằm cắt nghĩa, lý giải cho hành động Nhân vật trữ tình, trớc hết, là những con ngời rất tinh tế và nhạy cảm trong cảm nhận cuộc sống, con ngời. Để có đợc những cảm nhận đó, họ phải là những con ngời có một tình yêu mặn mà, tha thiết với cuộc sống quanh mình. "Nặng yêu thơng, tâm sự, hồi tởng" cũng là một đặc điểm của nhân vật trữ tình. Họ không phải là những ngời không có gì để nhớ, càng không phải là những ngời mau quên hoặc cố tình quên những gì đã qua mà là những con ngời nặng tình nặng nghĩa, có thủy có chung. Không chỉ sống với thế giới hiện tại, họ còn có cả một ký ức tuổi thơ phong phú để đi về sau những truân chuyên của cuộc đời. Tình huống truyện Đối với truyện ngắn trữ tình, tình huống truyện không nhằm thúc đẩy hành động của nhân vật cũng nh khái quát các mâu thuẫn của đời sống mà chỉ đóng vai trò khơi nguồn, châm ngòi cho việc lý giải nguyên cớ, nguồn cơn của những tâm trạng, những biến thái tinh thần của nhân vật. Chúng tôi chia các tình huống ở truyện ngắn trữ tình thành ba dạng Tình huống tự nhận thức Đây là dạng tình huống cho loại truyện viết về đời thờng, gắn với khả năng tự nhận thức, tự soi xét chính mình của nhân vật. Qua những tình huống nh vậy, nhà văn gửi gắm quan niệm của mình về đời sống, xã hội, 10 con ngời Lao động quang vinh, Làm việc - Nguyễn Ngọc Tấn; Chiến sỹ quân bu, Vòm trời quen thuộc - Đỗ Chu; Con chim bã trầu - Nguyễn Thành Long; Tình huống hồi cố Là tình huống đặt nhân vật sống lại những hồi ức, những kỷ niệm, những hồi cố về quá vãng, tìm về ngày xa với một sự trân trọng, tạo thành kiểu tình huống chất đầy tâm trạng và giàu sức gợi Quê hơng, Về Nam - Nguyễn Ngọc Tấn; Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng, Rẻo cao - Nguyên Ngọc; Hơng cỏ mật, Ráng đỏ - Đỗ Chu; Kí ức tuổi thơ - Anh Đức; Tiếng ma, Con đờng và dòng sông - Nguyễn Thị Nh Trang;. Tình huống khơi mở tâm lý. Truyện ngắn trữ tình thờng chú ý đến những khoảnh khắc bất ngờ, ngắn ngủi, thâu thái đợc những xung động tâm lý căng, nhạy có khả năng khơi mở, đánh động những rung động khẽ khàng, tinh tế ở bên trong. Nó là tiêu điểm thu gọn để làm nảy sinh cảm xúc, cảm giác. Chính vì thế, tình huống khơi mở tâm lý là tình huống tiêu biểu nhất của truyện ngắn trữ tình, giàu tiềm năng khơi mở cõi lòng bí ẩn của con ngời Mùa cá bột, Phù sa, Trong tầm súng - Đỗ Chu; Lặng lẽ Sa Pa, Giữa trong xanh, Buổi sáng thần tiên - Nguyễn Thành Long; Chuyện ở đảo, Con đờng và dòng sông - Nguyễn Thị Nh Trang;. Nghệ thuật trần thuật Trần thuật từ ngôi thứ nhất Là kiểu trần thuật phổ biến trong truyện trữ tình. Hình thức ngời kể chuyện từ ngôi thứ nhất tạo tiền đề cho quyền tự bộc lộ của ng ời viết, phát huy một cách tối đa vai trò và sự hiện diện của mình trong văn bản nghệ thuật. Đồng thời rút ngắn khoảng cách giữa ngời kể chuyện và nhân vật, tạo độ tin cậy cho tác phẩm. Kiểu trần thuật này cho phép đa vào lời trần thuật quan điểm riêng, sắc thái cá tính mang đậm màu sắc chủ quan, tăng cờng chất trữ tình cho câu chuyện Tiếng ma - Nguyễn Thị Nh Trang, Ký ức tuổi thơ - Anh Đức, Mùa nấm tràm - Đinh Quang Nhã Nhịp điệu trần thuật chậm ri, khoan thai Cơ sở để tạo nên nhịp điệu trần thuật ấy chính là do đặc trng thể loại quy định. Hầu hết truyện ngắn trữ tình đều rất ít sự kiện. Những sự kiện, biến cố ít ỏi này không đợc phát triển để trở thành biến cố mà thờng bị kéo dãn ra, mờ nhạt dần theo dòng tâm trạng của nhân vật. Đó là nguyên [...]... những nét cá tính không thể trộn lẫn với bất cứ nhân vật nào khác Đó là văn sỹ Hoàng ôi mắt - Nam Cao, Đào Mùa lạc - Nguyễn Khải, ông Tám Xẻo Đớc ất - Anh Đức, bác 18 Tám Sành Lửa đêm - Phan T , Cụ Mết Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, ông Năm Hạng ng Năm Hạng- Nguyễn Quang Sáng, hai chị em Chiến và Việt Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi Để xây dựng loại nhân vật này, các tác... phải phục tùng tập thể Trong hoàn cảnh ấy, kiểu nhân vật hết lòng lo toan những công việc chung, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nh Năm Gia đình lớn - Nguyễn Khải; Thân Cái hom gi , Thơm Cái đĩ con, Bí th Vợi Một ngày, chủ nhiệm Chẩn Neo đơn, bác Mục Ngày xuân, Chủ tịch Bình êm mùa thu, cụ T Gấc, anh Khang, chị Tiềm Mùa cá bột, đội trởng Nham Phù sa xuất hiện nhiều Có thể nói, lớp ngời... hình thức của thời đại" 1 29, 36 2 Có thể xem một hình thức thời đại của giai đoạn 1945 - 1975 chính là truyện ngắn Trong xu thế chung của thời đại, với tất cả những u điểm thể loại, truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 đã phát triển về nhiều mặt, phù hợp với điều kiện chiến tranh Sự phát triển của truyện ngắn không chỉ đợc khẳng định qua những thành tựu sáng tác của cá nhân, mà còn thể hiện rõ ở sự biến... diện mạo, bản chất của truyện ngắn đã có nhiều thay đổi Truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 không chỉ kế thừa những thành tựu của truyện ngắn những giai đoạn trớc mà còn là sản phẩm riêng của thời đại đấu tranh cách mạng Sự phát triển của truyện ngắn giai đoạn này chứng tỏ xu hớng của cả một thể loại đang tìm cách vận động để đáp ứng cao nhất yêu cầu của thực tiễn lúc đó là cổ vũ, động viên, tuyên truyền... những nguyên tắc thể loại, những phơng tiện và phơng thức nhận thức cuộc sống Chính những thay đổi này đã tạo cho truyện ngắn 1945 - 1975 một diện mạo riêng, mang dấu ấn của thời đại Có nhiều cách để tìm hiểu truyện ngắn mà mỗi cách đều chỉ ra những bình diện khác nhau cho việc khảo sát loại hình Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung khảo sát truyện ngắn từ góc độ thi pháp thể loại để thấy qua... tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, truyện ngắn lại đề cập đến một kiểu ngời mới ở nông thôn miền Bắc Qua đó, các tác giả phản ánh sự vận động và khí thế chung dân tộc, thời đại nh Mỵ Vợ chồng A Ph , chị Nhâm Chị Nhâm, Đoan Ngời v , bà cụ Thuận Buổi tối trong gia đình, lão Học Con trâu bạc, Chủ tịch Bình êm mùa thu, chủ nhiệm Chẩn Neo đơn Nhân vật loại hình kết hợp với nhân vật tính... biệt, truyện ngắn một mặt kế thừa và phát huy những thành tựu của những giai đoạn trớc, mặt khác cũng đã tạo nên những đặc điểm thi pháp riêng của thể loại trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định Luận án tập trung khảo sát ba vấn đề thuộc về thi pháp thể loại Đó là kết cấu, các kiểu loại nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ Qua sự khảo sát, phân tích chúng tôi nhận thấy những đặc điểm thi pháp thể loại truyện. .. sống, con ngời Loại tình huống này xuất hiện chủ yếu trong loại truyện thông qua số phận của một cá nhân cụ thể để ca ngợi tính u việt của chế độ xã hội chủ nghĩa đối với con ngời Vợ nhặt - Kim Lân, Anh Keng Nguyễn Kiên, Nhà chị Nhỡ, Trai làng quyền - Nguyễn Địch Dũng, Bộ quần áo mới - Ngô Ngọc Bội thuật trần thuật Trần thuật khách quan Khảo sát truyện ngắn hiện thực 1945 - 1975, chúng tôi... ngời công dân Giai đoạn 1945 - 1975 là thời kỳ đất nớc có chiến tranh Lợi ích cộng đồng trở thành nguyên tắc hàng đầu Do đó, xét trên đại thể, có thể thấy quan niệm nghệ thuật về con ngời của truyện ngắn 30 năm chiến tranh cách mạng là con ngời chính trị, con ngời công dân, con ngời hớng về cách mạng Con ngời cộng đồng trong truyện ngắn 1945 - 1954 Khám phá con ngời từ phơng diện xã hội, từ trách nhiệm... thể của một xã hội tốt đẹp cũng là một hớng khẳng định sự hoà nhập riêng chung của con ngời trong truyện ngắn lúc này Nhiều truyện ngắn đi theo hớng này đã thể hiện đợc khát vọng hạnh phúc của con ngời, nhất là những con ngời từng chịu nhiều đau khổ, thi t thòi ờng cày trên đám ruộng, Chị Nhâm, Bộ quần áo mới, Hoa đào năm ngoái, gặp bạn, Trai làng Quyền Con ngời sử thi trong truyện ngắn 1965 - 1975 . 4. Phơng pháp nghiên cứu. Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề tài " ;Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Nhìn từ góc độ thi pháp thể loại ", luận án sử dụng các phơng pháp nghiên. trung khảo sát truyện ngắn từ góc độ thi pháp thể loại để thấy qua các thời kỳ lịch sử diện mạo, bản chất của truyện ngắn đã có nhiều thay đổi. Truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 không chỉ kế. Hoàng ôi mắt - Nam Cao, Đào Mùa lạc - Nguyễn Khải, ông Tám Xẻo Đớc ất - Anh Đức, bác 19 Tám Sành Lửa đêm - Phan T , Cụ Mết Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, ông Năm Hạng ng Năm - Xem thêm -Xem thêm Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 nhìn từ góc độ thi pháp thể loại , Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 nhìn từ góc độ thi pháp thể loại ,
truyện ngắn việt nam sau 1975