bệnh viêm đa cơ
Các nghiên cứu ở những bệnh nhân bị viêm thực quản ăn mòn, được điều trị bằng PPI một lần mỗi ngày cho thấy tỷ lệ lành bệnh 88–96% sau 8 tuần điều trị, bất kể nhãn hiệu của PPI đã được sử dụng và mức độ nghiêm trọng cơ bản của bệnh viêm thực quản ăn
Các hướng điều trị bệnh viêm da cơ địa tốt nhất. Chúng ta có rất nhiều cách để điều trị bệnh viêm da cơ địa, từ Tây y, Đông y cho tới các mẹo dân gian. Bệnh nhân khi sử dụng những phương pháp này sẽ giúp kìm hãm tốt sự phát triển của bệnh, đẩy lùi các triệu
Một lô thuốc Nidal Day được dùng trong điều trị viêm khớp, cột sống, cơ xương… vừa bị Sở Y tế Hà Nội yêu cầu thu hồi do không đạt chất lượng. Sở Y tế Hà Nội vừa có thông báo thu hồi triệt để một lô thuốc viên nang mềm Nidal Day (Ketoprofen 50mg) vì không đạt
Nguy hiểm của bệnh viêm tử cung. Viêm tử cung là hiện tượng buồng tử cung bị viêm nhiễm do ký sinh trùng hoặc do vi khuẩn gây ra. Căn bệnh này có những nguy hiểm giống như bệnh viêm cổ tử cung do 2 bộ phận này nằm gần nhau và có chức năng tương đương nhau.
Nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm đường tiết niệu đó là do vi khuẩn. Vi khuẩn này xâm nhập từ phân đi vào các cơ quan khác bên trong cơ thể gây ra tình trạng viêm nhiễm niệu đạo, bàng quang và thận. Ngoài vi khuẩn E.Coli, nguyên nhân khiến bạn mắc bệnh viêm đường tiết
Dating 3 Months What To Expect. Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Lê Dương Tiến - CK Nội cơ xương khớp, Khoa Khám bệnh & Nội khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng. Viêm cơ là tình trạng viêm xảy ra tại vùng cơ bắp. Yếu, sưng và đau là những triệu chứng viêm cơ phổ biến nhất. Nguyên nhân gây viêm cơ bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, bệnh tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân gây bệnh. 1. Viêm cơ là gì? Viêm cơ là tình trạng viêm tại các tổ chức cơ bắp gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm trùng, chấn thương, tình trạng tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Triệu chứng đặc trưng của viêm cơ là yếu, sưng và đau cơ. Các phương pháp điều trị viêm cơ là khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. 2. Các loại nhiễm trùng gây viêm cơ Bệnh tự miễn Tình trạng viêm toàn thân có thể gây viêm cơ, trong đó có bệnh tự miễn - hệ miễn dịch tấn công vào các mô cơ quan của chính nó. Một số bệnh có khả năng gây viêm cơ nghiêm trọng bao gồmViêm da cơ địaViêm đa cơViêm cơ thể Inclusion body myositis IBMMột số bệnh tự miễn khác có xu hướng gây ra các dạng viêm cơ nhẹ hơn, bao gồmLupusXơ cứng bìViêm khớp dạng thấpBệnh tự miễn thường là nguyên nhân gây viêm cơ nghiêm trọng nhất, cần điều trị lâu dài. Viêm da cơ địa có thể gây ra tình trạng viêm cơ Nhiễm trùng Nhiễm vi - rút là tình trạng nhiễm trùng phổ biến nhất gây ra viêm cơ. Ngoài ra, vi khuẩn, nấm hoặc các sinh vật khác cũng có khả năng gây ra viêm cơ. Vi - rút hoặc vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp vào mô cơ hoặc giải phóng các chất gây tổn thương sợi cơ. Một số bệnh do vi - rút gây ra như cúm, cảm lạnh thông thường, HIV là một vài trong số các bệnh có khả năng gây viêm cơ. Thuốc Thuốc chữa bệnh và một số loại chất khác có thể là nguyên nhân gây ra tổn thương cơ tạm thời. Thuốc gây viêm cơ hoặc bệnh về cơ bao gồmStatinColchicinePlaquenil hydroxychloroquineAlpha-interferonCocaineRượuBệnh về cơ có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu dùng thuốc, hoặc có thể xảy ra sau khi dùng thuốc trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Đôi khi nó được gây ra bởi sự tương tác giữa hai loại thuốc khác nhau. Viêm cơ nghiêm trọng do thuốc là rất hiếm. Chấn thương Tập thể dục cường độ cao có thể dẫn đến đau, sưng và yếu cơ trong nhiều giờ hoặc vài ngày sau khi tập luyện. Các triệu chứng trên là dấu hiệu của viêm cơ. Các triệu chứng viêm cơ sau khi tập thể dục hoặc chấn thương sẽ giảm đi nhanh chóng sau khi nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe. Tiêu cơ vân Tiêu cơ vân xảy ra khi cơ bắp bị tổn thương trong thời gian ngắn. Đau cơ, yếu và sưng là triệu chứng của tiêu cơ vân. Nước tiểu cũng có thể chuyển sang màu nâu sẫm hoặc đỏ. 3. Triệu chứng viêm cơ Triệu chứng chính của viêm cơ là yếu cơ có thể nhận thấy qua thăm khám lâm sàng hoặc các xét nghiệm. Đau cơ có thể có hoặc không. Viêm da cơ, viêm đa cơ và một số tình trạng viêm khác có xu hướng gây yếu cơ dần dần và tiến triển nặng sau vài tuần hoặc vài tháng. Các vị trị yếu cơ thường gặp là cổ, vai, hông và lưng. Yếu cơ có thể gây té ngã và khó khăn khi đứng dậy khỏi ghế hoặc sau khi ngã. Các triệu chứng khác có thể gặp trong viêm cơ bao gồmPhát banMệt mỏiDa vùng tay dày lênKhó nuốtKhó thởNhững người bị viêm cơ do vi - rút thường có các triệu chứng nhiễm vi - rút như sổ mũi, sốt, ho và đau họng, hoặc buồn nôn và tiêu chảy. Đa số các triệu chứng nhiễm vi - rút có thể biến mất vài ngày hoặc vài tuần trước khi các triệu chứng viêm cơ bắt số ít người có triệu chứng đau trong bệnh viêm cơ. Hầu hết các cơn đau cơ không phải do tình trạng viêm mà do chấn thương, căng thẳng, hoặc các bệnh thông thường như cảm lạnh và cúm. Những cơn đau cơ thông thường này được gọi là chứng đau cơ. Bác sĩ nghi ngờ viêm cơ dựa trên triệu chứng yếu cơ hoặc các dấu hiệu khác liên quan đến viêm cơ. Các xét nghiệm chẩn đoán viêm cơ bao gồmXét nghiệm máu Nồng độ enzyme cơ cao, chẳng hạn như creatine kinase cao, là dấu hiệu chỉ điểm của viêm cơ. Các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu kiểm tra các kháng thể bất thường giúp xác định tình trạng tự miễn MRI Một máy quét sử dụng nam châm công suất cao và máy tính tạo ra hình ảnh của các cơ. Quét MRI có thể giúp xác định các khu vực của viêm cơ và thay đổi trong cơ theo thời Bằng cách chèn các điện cực kim vào cơ bắp, bác sĩ có thể kiểm tra phản ứng của cơ với tín hiệu thần kinh điện. EMG có thể xác định các cơ bị yếu hoặc bị tổn thương do viêm thiết cơ Đây là xét nghiệm chính xác nhất để chẩn đoán viêm cơ. Bác sĩ xác định yếu cơ bằng cách rạch một đường nhỏ và lấy một mẫu mô cơ nhỏ để xét nghiệm. Sinh thiết cơ là xét nghiệm chẩn đoán cuối cùng ở hầu hết những người bị viêm cơ. Xét nghiệm máu là một trong những phương pháp chẩn đoán bệnh viêm cơ 5. Điều trị viêm cơ Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân. Tình trạng viêm gây viêm cơ có thể cần điều trị bằng thuốc ức chế hệ miễn dịch, bao gồmPrednisoneAzathioprine ImuranMethotrexateViêm cơ do nhiễm trùng thường là do vi - rút, và không có phương pháp điều trị cụ thể. Viêm cơ do vi khuẩn là không phổ biến và thường cần dùng kháng sinh để ngăn ngừa sự lây lan của vi khuẩn đe dọa đến tính dù tiêu cơ vân hiếm khi xảy ra do viêm cơ, nhưng một khi xảy ra có thể gây tổn thương thận vĩnh viễn. Những người bị tiêu cơ vân phải nhập viện để được truyền dịch tĩnh mạch liên tục với số lượng cơ liên quan đến một loại thuốc được điều trị bằng cách ngừng thuốc. Trong trường hợp viêm cơ do thuốc statin, tình trạng viêm thường giảm trong vòng vài tuần sau khi ngừng nhân gây viêm cơ bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, bệnh tự miễn và tác dụng phụ của thuốc. Điều trị viêm cơ thay đổi tùy theo nguyên nhân gây bệnh vì vậy tất nhiên cần phải khám ngay để tìm nguyên nhân chính gây viêm cơ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Bài viết tham khảo nguồn XEM THÊM Viêm cơ nhiễm khuẩn Những điều cần biết Tìm hiểu thông tin về viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơ Điều trị bệnh viêm mô tế bào theo hướng dẫn của Bộ Y tế Dịch vụ từ Vinmec
1. Định nghĩa Viêm da cơ/viêm đa cơ được xếp vào nhóm bệnh tự miễn với tổn thương cơ bản là tình trạng viêm mạn tính của các bó cơ viêm đa cơ và có thể có tổn thương da kèm theo viêm da-cơ. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là yếu cơ vùng gốc chi đối xứng hai bên và có thể kèm tổn thương da. Ngoài tổn thương ở cơ, bệnh nhân có thể có các triệu chứng ở khớp, phổi, tim mạch và tiêu hóa. Ở người già, viêm da cơ/viêm đa cơ có thể kết hợp với ung thư. Biểu hiện bệnh viêm da cơ 2. Chẩn đoán Chẩn đoán xác định * Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tanimoto và cộng sự năm 1995. Tiêu chuẩn này có độ nhậy 98,9% và độ đặc hiệu 95,2%. Chẩn đoán xác định viêm đa cơ khi có ít nhất 4 trong 8 triệu chứng sau Yếu cơ vùng gốc chi Tăng CK creatinin kinase trong huyết thanh hoặc aldolase Đau cơ do viêm cơ gây nên hoặc đau tự phát Điện cơ có các biến đổi nguồn gốc cơ thời gian ngắn, đơn vị vận động nhiều pha với các rung giật tự phát. Kháng thể kháng Jo-1 dương tính Viêm khớp không phá hủy khớp hoặc đau khớp Các triệu chứng toàn thân sốt > 370C, CRP tăng hoặc tốc độ máu lắng tăng > 20mm/h bằng phương pháp Westegren. Các bằng chứng của viêm cơ khi sinh thiết cơ thâm nhiễm cơ vân kèm thoái hóa và hoại tử sợi cơ thực bào hoạt động, nhân trung tâm hoặc có các bằng chứng hoạt động. Chẩn đoán xác định viêm da cơ khi có ít nhất 4 trong 8 triệu chứng về cơ ở trên và có ít nhất 1 trong 3 triệu chứng về da sau Ban tím sẫm quanh hốc mắt hồng ban xuất huyết trên mí mắt Sẩn Gottron ban xuất huyết sừng hóa, ban teo hoặc mảng đỏ hoặc tím ở mặt duỗi của ngón tay. Hồng ban ở mặt duỗi của các khớp ngoại vi lớn khuỷu, gối. Lưu ý * Triệu chứng cơ biểu hiện rõ nhất ở cơ tứ đầu đùi với “dấu hiệu ghế đẩu”. Và mặc dù tăng CK kèm theo SGOT, SGPT song hầu như không có tổn thương ống thận như các trường hợp hủy tế bào cơ khác. * Thường kèm tổn thương phổi kẽ, phát hiện tốt nhất trên hình ảnh ngực lớp mỏng. Chẩn đoán phân biệt Viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì, bệnh nhược cơ, bệnh Basedow, yếu cơ do nguyên nhân thần kinh. 3. Điều trị Nguyên tắc điều trị Đây là bệnh hệ thống, cần khảo sát các tổn thương cơ quan khác phổi, tim mạch, tiêu hóa… Kết hợp điều trị thuốc và phục hồi chức năng cơ. Kết hợp corticoid và các thuốc điều trị cơ bản Methotrexat hoặc Azathioprin trong các thể thông thường và cyclophosphamid trong các thể kháng điều trị hoặc có tổn thương phổi kẽ. Kết hợp truyền tĩnh mạch Imunoglobulin có hiệu quả tuy giá thành cao. Cần phòng tránh các biến chứng do thuốc. Cần khảo sát các ung thư kết hợp, đặc biệt ung thư cơ quan sinh dục ở nữ. Điều trị thuốc * Corticoid là thuốc điều trị chính trong bệnh viêm da cơ/viêm đa cơ. + Corticoid đường uống, với liều khởi đầu 1-2mg/kg/ngày, dùng 1 lần/ngày hoặc chia 3-4 lần/ngày nếu dùng 1 lần/ngày không kiểm soát được bệnh. Duy trì liều cao đến khi các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm và nồng độ men CK trong huyết thanh giảm trở về bình thường, trung bình khoảng 6-8 tuần. Sau đó giảm liều dần, liều duy trì trung bình 5-10mg/ngày. + Corticoid truyền tĩnh mạch liều cao – Bolus corticoid truyền mỗi ngày Chỉ định khi bệnh nhân bị bệnh nặng, tiến tiển cấp tính, có tổn thương tim mạch hoặc viêm phổi kẽ nặng. * Methotrexat + Chỉ định các thể thông thường + Dùng đường uống, liều 7,5-15mg/1 tuần, có thể tăng liều lên đến 20mg/1 tuần tùy theo đáp ứng của bệnh nhân. + Ít tác dụng không mong muốn suy tế bào gan, suy tủy xương, viêm phổi. Hàng tháng cần theo dõi tế bào máu ngoại vi và men gan khi dùng thuốc kéo dài. * Azathioprin + Chỉ định khi không đáp ứng với Methotrexat + Dùng đường uống với liều khởi đầu 1,5-2mg/kg/ngày, liều trung bình 150-200mg/ngày. Giảm liều khi các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm. * Cyclophosphamid + Chỉ định trong các thể kháng điều trị hoặc có tổn thương phổi kẽ + Thường dùng liều bolus Cyclophosphamide mỗi tháng một lần truyền tĩnh mạch liều 500mg-1000mg; trong 6 tháng liên tục như trên. Có thể dùng đường uống với liều 1-2mg/kg/ngày, liều tối đa 150mg/ngày song nguy cơ ung thư bàng quang tăng. + Tác dụng không mong muốn viêm bàng quang chảy máu cần phối hợp với Mesna xem thêm phần phụ lục; suy tế bào gan, suy tủy xương… Các biện pháp khác * Truyền tĩnh mạch Imunoglobulin + Chỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm da cơ/viêm đa cơ nặng. Kết hợp với các điều trị nêu trên. + Liều 1-2g/kg/ngày truyền từ 2-5 ngày mỗi 04 tuần. Ngừng truyền khi các triệu chứng được cải thiện. * Plasmapheresis + Chỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm da cơ/viêm đa cơ nặng. Kết hợp với các điều trị nêu trên. 4. Theo dõi và quản lý * Tiên lượng Phụ thuộc vào mức độ nặng của tổn thương cơ, tổn thương tim phổi, tổn thương ác tính của cơ quan kết hợp và các rối loạn miễn dịch. Yếu cơ tuy có hồi phục, song thường tồn tại lâu dài. * Các thông số cần theo dõi Cơ lực và trương lực cơ, CK, CK MB, SGOT, SGPT, CRP protein C phản ứng, creatinin, tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng. Ngoài ra cần theo dõi các tác dụng không mong muốn của corticoid điện giải đồ cả cal ci; đường máu…; tình trạng nhiễm trùng, huyết áp… Nguyễn Thị Phương Thủy Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai Lượt xem xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao – xếp hạng 5 sao ý Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người ! Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !Phòng khám Cột sống 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội Phụ trách chuyên môn BS Mai Trung Dũng Bác sĩ chuyên khoa cấp II Đại học y Hà hội - 2015 Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt NamCó thể bạn quan tâm
Viêm đa cơ là gì? Viêm đa cơ là nhóm bệnh tự miễn với tổn thương chính là tình trạng viêm mạn tính của các bó cơ vân với biểu hiện đặc trưng là yếu cơ vùng gốc chi đối xứng hai bên có kèm tăng các men cơ xương. Viêm đa cơ kèm theo có tổn thương da thì gọi là bệnh Viêm da – cơ hay viêm bì cơ. Ngoài tổn thương ở cơ hoặc kèm theo da, các bệnh nhân thường có biểu hiện khác ở gối, phổi, tim mạch, tiêu hóa. Ở người già, viêm đa cơ và viêm da – cơ có tỷ lệ kết hợp với bệnh ung thư cao hơn và ngược lại ung thư biểu hiện như viêm da – cơ. Bệnh viêm đa cơ và viêm da – cơ thuộc nhóm bệnh tự miễn nên còn gọi là Viêm đa cơ tự miễn với nguyên nhân hiện nay vẫn chưa được biết rõ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh còn có xu hướng tiến triển theo mùa trong năm và có liên quan đến kháng thể tự miễn và các yếu tố di truyền Ngoài ra, các tác nhân như yếu tố môi trường, các tác nhân gây nhiễm trùng như vi khuẩn, virus, các loại thuốc cũng được xem là nguyên nhân gây bệnh. Khi người bệnh đến khám chuyên khoa, bác sĩ sẽ kết hợp giữa biểu hiện lâm sàng của người bệnh và hỏi bệnh. Sau khi khám xong, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa như Xét nghiệm máu phát hiện các enzym cơ trong huyết thanh tăng cao như CK, GOT, GPT... ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân dương tính, gặp các kháng thể đặc hiệu với viêm cơ tự miễn trong cơ thể. Điện cơ cho thấy các hình ảnh điện thế phức tạp, biên độ thấp, yếu cơ, cơ dễ bị kích thích. Sinh thiết cơ thấy hình ảnh bất thường của cơ, có xâm lấn, thoái hóa và hoại tử, Có xuất hiện teo các tổ chức xung quanh, theo tiến triển bệnh sẽ dẫn đến việc các tổ chức xơ thay thế các tổ chức cơ bị hoại tử làm chia tách bó cơ. Sinh thiết da cho kết quả thâm nhiễm, teo da, thoái hóa các tổ chức của da. Kiểm tra bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chụp CT, đo chức năng hô hấp giúp cho việc xác định tổn thương và xâm lấn để có biện pháp điều trị đạt kết quả cao. Triệu chứng của viêm đa cơ và viêm da – cơ thường diễn biến từ từ trong vài tuần hoặc vài tháng nên rất khó phát hiện sớm. Bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, sút cân đặc biệt khi kết hợp với bệnh ung thư. Các triệu chứng biểu hiện như Cơ Bệnh nhân có biểu hiện đau cơ, xơ hóa cơ gây tình trạng co rút cơ, hạn chế vận động các khớp; yếu vùng cơ gốc chi, đối xứng hai bên; yếu cơ vùng hầu họng gây nên tình trạng khó ăn, khó nuốt, nói tiếng bị khàn; yếu cơ vùng liên sườn dẫn đến tình trạng người bệnh khó thở và cuối cùng sẽ dấn đến teo cơ... Da Dấu hiệu quan trọng trong bệnh viêm da – cơ là tổn thương da gồm có các dát màu đỏ tím, có vảy. Ở giai đoạn tiến triển, có thể teo da, tăng hoặc giảm sắc tố, xuất hiện các ban đỏ, giãn mao mạch ở xung quanh móng tay. Khớp Xuất hiện đau khớp hoặc viêm khớp thường gặp ở các khớp nhỏ của bàn tay, cổ tay nhưng không gây biến dạng khớp. Lắng đọng calci ở da và các tổ chức. Bệnh nhân có thể sờ thấy các hạt cứng chắc hoặc nhìn thấy các hạt màu trắng khi tổn thương ở lớp nông. Calci hóa sẽ gây ra tình trạng vận động kém của khớp. Các biểu hiện khác Bệnh nhân xuất hiện tình trạng khó thở, xơ phổi, viêm phổi và tràn dịch. Ngoài ra còn có các bệnh lý về thận, hội chứng thận hư, các bệnh lý ung thư kèm theo tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp Viêm đa cơ, viêm da – cơ thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi từ 10 – 15 tuổi và người lớn tuổi từ 45 – 60 tuổi, một vài trường hợp có ghi nhận mắc phải ở trẻ em dưới 10 tuổi. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn người da trắng và phụ nữ tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đàn ông. Hiện nay chưa có bất kỳ biện pháp nào giúp phòng ngừa bệnh viêm đa cơ, viêm da – cơ. Người bệnh khi có các biểu hiện cần đi khám bệnh sớm tại các chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị tốt nhất. Khi người bệnh đến khám chuyên khoa, bác sĩ sẽ kết hợp giữa biểu hiện lâm sàng của người bệnh và hỏi bệnh. Sau khi khám xong, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa như Xét nghiệm máu phát hiện các enzym cơ trong huyết thanh tăng cao như CK, GOT, GPT... ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân dương tính, gặp các kháng thể đặc hiệu với viêm cơ tự miễn trong cơ thể. Điện cơ cho thấy các hình ảnh điện thế phức tạp, biên độ thấp, yếu cơ, cơ dễ bị kích thích. Sinh thiết cơ thấy hình ảnh bất thường của cơ, có xâm lấn, thoái hóa và hoại tử, Có xuất hiện teo các tổ chức xung quanh, theo tiến triển bệnh sẽ dẫn đến việc các tổ chức xơ thay thế các tổ chức cơ bị hoại tử làm chia tách bó cơ. Sinh thiết da cho kết quả thâm nhiễm, teo da, thoái hóa các tổ chức của da. Kiểm tra bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chụp CT, đo chức năng hô hấp giúp cho việc xác định tổn thương và xâm lấn để có biện pháp điều trị đạt kết quả cao. Việc phát hiện và điều trị bệnh rất quan trọng, điều trị bệnh sớm hiệu quả càng cao và ít biến chứng. Các biện pháp điều trị hiện nay thường sử dụng như Điều trị thuốc theo chỉ định của bác sĩ Điều trị bằng Corticoid kết hợp với các thuốc điều trị khác theo chỉ định. Không tự ý dùng thuốc khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ. Việc dùng thuốc bừa bãi không những không điều trị được bệnh mà còn tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc làm thất bại trong việc điều trị. Lọc huyết tươngtrong trường hợp bệnh tiến triển nặng, điều trị thuốc không đáp ứng. Tập vật lý trị liệu tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh và theo chỉ định của bác sĩ. Xem thêm Viêm cơ, áp xe cơ Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Viêm khớp Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Viêm cơ tim Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị
bệnh viêm đa cơ